- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn Đ - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Trần Văn Đ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự nơi công cộng”. Thời hạn tù tính từ ngày 16 tháng 8 năm 2021.
- Căn cứ chính? Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2022/HS-ST Ngày: 05-4-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGH VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tần Quốc Bình
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Lan
2. Bà Cao Thị Tuyết Mai
- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Đăng Huy - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Luân - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 4 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 19/2022/TLST-HS ngày 26 tháng 01 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2022/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2022 đối với bị cáo:
Trần Văn Đ (tên gọi khác://); Giới tính: Nam; Sinh ngày 13 tháng 3 năm 1981 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký thường trú: 76/44/6 Đường T, Phường M, Quận T, TP.HCM; Nơi cư trú: 76/44/6 Đường T, Phường M, Quận T, TP.HCM; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Trần Văn P, sinh năm 1947 và bà Nguyễn Thị Nh, sinh năm 1955; Hoàn cảnh gia đình: Anh chị em ruột có 01 em ruột sinh năm 1983; Vợ, con: Sống chung như vợ chồng với Lê Thị Tố T (không rõ lai lịch), có 01 con không rõ năm sinh.
Tiền án: Không.
Tiền sự: 03
- Ngày 11/02/2015 bị Tòa án nhân dân Quận M TP.HCM quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 20 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Ngày 04/8/2016 chấp hành xong quyết định.
- Ngày 28/02/2017 bị Tòa án nhân dân quận T TP.HCM quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 21 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Ngày 10/8/2018 chấp hành xong quyết định.
- Ngày 25/7/2019 bị Tòa án nhân dân Quận M TP.HCM quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 20 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Ngày 08/01/2021 chấp hành xong quyết định.
Nhân thân:
- Ngày 12/8/1999 bị Tòa án nhân dân Quận T TP.HCM áp dụng khoản 1 Điều 154, điểm d, h khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 1999 xử phạt 09 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản của công dân”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/02/2000. Chi cục Thi hành án Quận M đã đình chỉ thi hành án 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 80.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm do được xét miễn thi hành án theo quy định. Đối với khoản bồi thường cho chị Nguyễn Thị Tám 05 chỉ 02 phân vàng 18K, Chi cục Thi hành án Quận M không có dữ liệu thụ lý thi hành án.
Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 16/8/2021 “vắng mặt do có đơn đề nghị xét xử vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ tháng 6/2021, toàn địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16 của Chính Phủ, người dân không được ra đường không có lý do chính đáng do tình hình lây lan dịch bệnh Covid-19. Tuy nhiên, Trần Văn Đ vẫn thường xuyên uống rượu bia, nhiều lần không đeo khẩu trang ra đường, la hét chửi bới, đe dọa những người xung quanh. Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 15/8/2021, sau khi uống rượu bia Trần Văn Đ đã đem vật dụng trong nhà của Đ số 76/44/6 Đường T, Phường M, Quận T ném ra đầu hẻm 76 Đường T, Phường M, Quận T. Sau đó, Đ đi vào nhà lấy 01 con dao có cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại dài 30cm cầm trên tay phải rồi đi ra khu vực hẻm 76/44 Đường T, Phường M, Quận T. Đ không đeo khẩu trang, đứng la hét chửi bới những người xung quanh và chính quyền, rồi dùng dao chém vào cửa, tường các nhà số 76/44/1 Đường T, Phường M, Quận T của bà Nguyễn Thị Đ, nhà số 76/44/3 Đường T của chị Huỳnh Thị Hải S, nhà số 76/44/9 Đường T, Phường M, Quận T của anh Trần Quốc Th. Đ tiếp tục chửi bới và cầm dao đi vào hẻm 76/41 Đường T, Phường M, Quận T. Tại đây, Đ dùng chân đạp ngã, dùng dao chém rách phần yên xe gắn máy Cub màu đỏ biển số 50H3-8166 của ông Phạm Hữu Ngh đang dựng trước nhà số 76/41/1 Đường T, Phường M, Quận T, đập bể kính tủ inox của anh Hồng Hữu T đang để trước nhà số 76/43 Đường T, Phường M, Quận T. Đ tiếp tục đi đến nhà số 76/30A Đường T, Phường M, Quận T của chị Chế Thị Cẩm H, dùng dao đập vào cửa nhà. Chị H đang ở trên lầu nghe tiếng đập cửa, nhìn xuống thì thấy Đ tay cầm dao nên không dám ra ngoài. Bà Dương Thị B (mẹ chị H) mở cửa xem có việc gì thì thì bị Đ dùng dao đe dọa chém, tuy nhiên bà B kịp thời đóng cửa nhà lại. Đ tiếp tục dùng chân đạp ngã xe gắn máy Honda Vision màu đỏ, biển số 59C1- 707.35 của chị H đang dựng trước cửa nhà, rồi cầm dao chém nhiều nhát vào chiếc xe máy trên. Một lúc sau, Đ bỏ đi về đứng trước nhà số 76/44 Đường T, Phường M, Quận T lớn tiếng chửi bới, đe dọa người dân xung quanh. Nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, Công an Phường M, Quận T cùng bảo vệ dân phố đến nhiều lần thuyết phục, vận động nhưng Đ không chấp hành, có thái độ chửi bới đe dọa và cầm dao chỉ về phía tổ công tác. Tổ công tác tiến hành khống chế và đưa Đ về trụ sở.
Khoảng 10 giờ 20 ngày 15/8/2021, chị Chế Thị Cẩm H phát hiện xe gắn máy Honda Vision bị Trần Văn Đ đập phá gây hư hỏng nên đã đến Công an Phường M, Quận T để tố giác (BL81). Ngày 16/8/2021, Ủy Bn nhân dân Phường M, Quận T nhận định hành vi của Trần Văn Đ gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội tại địa phương có Công văn số 672/UBND kiến nghị khởi tố Đ về hành vi Gây rối trật tự công cộng (BL78).
Tại Kết luận định giá tài sản số 91/KL-HĐĐGTS ngày 24/8/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận 4 kết luận: 01 xe gắn máy hiệu Honda, loại Vision, màu đỏ, biển số 59C1-707.35 bị bể phần nhựa dè xe phía trước và phần nhựa ổ khóa, đã qua sử dụng, tại thời điểm định giá ngày 15/8/2021, không xác định được giá trị thiệt hại. (BL39-42)
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 4, Trần Văn Đ thừa nhận toàn bộ hành vi như trên (BL94; 108; 152-158).
Về dân sự, gia đình Trần Văn Đ đã bồi thường 1.000.000 đồng cho chị Chế Thị Cẩm H, bồi thường 500.000 đồng cho anh Phạm Hữu Ngh, bồi thường cho anh Hồng Hữu T 200.000 đồng. Chị H, anh Ngh và anh Tài đã nhận đủ tiền và không có yêu cầu bồi thường gì thêm (BL43-45). Riêng chị Nguyễn Thị Đ, chị Huỳnh Thị Hải S, anh Trần Quốc Th, anh Huỳnh Hữu S đã bị Đ dùng dao chém vào cánh cửa, tường nhà, cho rằng thiệt hại nhỏ, không đáng kể nên không yêu cầu bồi thường (BL92-93; 95-98; 100-107; 109-110; 112-151).
Vật chứng hiện đang tạm giữ:
- 01 con dao cán bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 30cm, rộng 05cm do bị cáo Trần Văn Đ sử dụng làm phương tiện gây án.
- 01 đĩa CD chứa 01 đoạn video Trần Văn Đ có hành vi đe dọa, chửi bới lực lượng Công an Phường M, Quận T vào ngày 15/8/2021 và 01 đoạn video ghi lại hình ảnh Trần Văn Đ đe dọa chửi bới mọi người tại khu vực hẻm 76 Đường T, Phường M, Quận T ngày 24/7/2021 được lưu theo hồ sơ vụ án.
Tại Bản cáo trạng số 28/CT-VKSQ4 ngày 25/01/2022 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 truy tố bị cáo Trần Văn Đ về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa: Bị cáo Trần Văn Đ vắng mặt nên không có ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 trình bày lời luận tội: Cáo trạng số 28 /CT-VKS ngày 25/01/2022 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 truy tố Trần Văn Đ về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Bị cáo thành khẩn khai báo. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Trần Văn Đ từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù;
Về dân sự: Gia đình bị cáo Trần Văn Đ đã bồi thường 1.000.000 đồng cho chị Chế Thị Cẩm H, bồi thường 500.000 đồng cho anh Phạm Hữu Ngh, bồi thường cho anh Hồng Hữu T 200.000 đồng. Chị H, anh Ngh và anh Tài đã nhận đủ tiền và không có yêu cầu bồi thường gì thêm. Riêng chị Nguyễn Thị Đ, chị Huỳnh Thị Hải S, anh Trần Quốc Th, anh Huỳnh Hữu S đã bị Đ dùng dao chém vào cánh cửa, tường nhà, cho rằng thiệt hại nhỏ, không đáng kể nên không yêu cầu bồi thường nên không có gì để xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 01 con dao cán bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 30cm, rộng 05cm do Trần Văn Đ sử dụng làm phương tiện gây án.
- Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án 01 đĩa CD chứa 01 đoạn video Trần Văn Đ có hành vi đe dọa, chửi bới lực lượng Công an Phường M, Quận T vào ngày 15/8/2021 và 01 đoạn video ghi lại hình ảnh Trần Văn Đ đe dọa chửi bới mọi người tại khu vực hẻm 76 Đường T, Phường M, Quận T ngày 24/7/2021.
Phần tranh luận: Bị cáo Trần Văn Đ vắng mặt nên không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng: Bị cáo Trần Văn Đ vắng mặt nên không có lời nói sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 4, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn Đ không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
. Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Trần Văn Đ thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu. Qua lời khai của bị cáo, đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 15/8/2021, tại khu vực hẻm 76 Đường T, Phường M, Quận T bị cáo Trần Văn Đ có hành vi không chấp hành thực hiện giãn cách Chỉ thị 16 của Chính Phủ, sau khi uống rượu bia đã đến nơi công cộng, la hét chửi bới những người xung quanh và chính quyền, sử dụng hung khí là dao dài 30cm chém, đập phá gây hư hỏng nhiều tài sản, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa bàn Phường M, Quận T nên đã phạm vào tội “Gây rối trật tự công cộng” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo đã gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở địa phương nơi xảy ra vụ việc, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Do đó, để có tác dụng giáo dục và răn đe, căn cứ vào tính chất nguy hiểm của tội phạm cần có mức án tương ứng để xử phạt. Tuy nhiên, xét bị cáo thành khẩn khai báo nên khi lượng hình có xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
. Về xử lý vật chứng:
- 01 con dao cán bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 30cm, rộng 05cm do bị cáo Trần Văn Đ sử dụng làm phương tiện gây án cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 đĩa CD chứa 01 đoạn video Trần Văn Đ có hành vi đe dọa, chửi bới lực lượng Công an Phường M, Quận T vào ngày 15/8/2021 và 01 đoạn video ghi lại hình ảnh Trần Văn Đ đe dọa chửi bới mọi người tại khu vực hẻm 76 Đường T, Phường M, Quận T ngày 24/7/2021 được lưu theo hồ sơ vụ án cần được tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
. Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo Trần Văn Đ đã bồi thường 1.000.000 đồng cho chị Chế Thị Cẩm H, bồi thường 500.000 đồng cho anh Phạm Hữu Ngh, bồi thường cho anh Hồng Hữu T 200.000 đồng. Chị H, anh Ngh và anh Tài đã nhận đủ tiền và không có yêu cầu bồi thường gì thêm. Riêng chị Nguyễn Thị Đ, chị Huỳnh Thị Hải S, anh Trần Quốc Th, anh Huỳnh Hữu S đã bị Đ dùng dao chém vào cánh cửa, tường nhà, cho rằng thiệt hại nhỏ, không đáng kể nên không yêu cầu bồi thường, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy Bn Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Trần Văn Đ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự nơi công cộng”. Thời hạn tù tính từ ngày 16 tháng 8 năm 2021.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 01 con dao cán bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 30cm, rộng 05cm;
- Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án 01 đĩa CD chứa 01 đoạn video Trần Văn Đ có hành vi đe dọa, chửi bới lực lượng Công an Phường M, Quận T vào ngày 15/8/2021 và 01 đoạn video ghi lại hình ảnh Trần Văn Đ đe dọa chửi bới mọi người tại khu vực hẻm 76 Đường T, Phường M, Quận T ngày 24/7/2021.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08 tháng 3 năm 2022, giữa Công an Quận 4 và Chi cục thi hành án Dân sự Quận 4).
Căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy Bn Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng;
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nôi nhaän:
| - Bị cáo; (1) - CA TP.HCM (PV 06); (2) - TAND TP.HCM; (1) - Sở Tư pháp TP.HCM; (1) - VKSND Quận 4; (2) - Công an Quận 4; (2) - Chi cục THADS Quận 4; (1) - Chi cục THAHS Quận 4; (3) - Lưu VT, hồ sơ. (2) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tần Quốc Bình |