vanban.org

Bản án 36/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Bình Thủy, TP. Cần Thơ Tuyên án 01/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Diệp Tuấn K (Tên gọi khác: Thi) phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt bị cáo Diệp Tuấn K 09 (Chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ bị cáo chấp hành án. Hình phạt bổ sung: Không. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Diệp Tuấn K (Tên gọi khác: Thi) phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH THỦY
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2022/HS-ST
Ngày: 01-8-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy Hương;

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Việt Thành;

Ông Huỳnh Văn Nhân;

- Thư ký phiên tòa: Bà Thạch Thị Thi - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Võ Long Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 8 năm 2022, tại Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 31/2022/HSST ngày 08/7/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 357/2022/QĐXXST-HS ngày 12/7/2022 đối với:

1. Bị cáo Diệp Tuấn K (Tên gọi khác: Thi), sinh năm 1997 tại Cần Thơ. Nơi cư trú: phường L, quận B, thành phố Cần Thơ; Trình độ học vấn: 07/12; Nghề nghiệp: Không; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Bị cáo là con của ông Diệp Anh K, sinh năm 1979 và bà Võ Thị Diễm T, sinh năm 1979; Bản thân chưa có vợ, con. Tiền án: Không. Tiền sự 02 lần: Lần 1 vào ngày 12/10/2021 bị UBND phường Long Hòa, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, chấp hành xong ngày 12/01/2022; Lần 2 vào ngày 28/02/2022 bị Công an quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ xử phạt vi phạm hành chính số tiền 4.000.000 đồng về hành vi mang theo trong người vũ khí thô sơ nhằm gây thương tích cho người khác,K chưa đóng phạt. Nhân thân của bị cáo: Ngày 22/10/2018 bị Tòa án nhân dân quận Bình Thủy ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24 tháng. Ngày 16/12/2021 bị cáo có hành vi trộm cắp tài sản và bị Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can vào ngày 27/01/2022. Hiện nay bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm giam – Công an thành phố Cần Thơ. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Bị hại: Ông Thi Văn Thạch S, sinh năm 1979; Địa chỉ: phường T, quận B, thành phố Cần Thơ; Vắng mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Huỳnh Hữu L, sinh năm 1957; Địa chỉ: phường A, quận N, thành phố Cần Thơ; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ông Thi Văn Thạch S mua lại căn nhà tại địa chỉ 629B/10 khu vực Bình Yên A, phường Long Hòa, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ và sửa chữa lại. Tại công trình này ông S có lắp camera quan sát. Khoảng 7 giờ ngày 16/02/2022 ông S phát hiện mất một số tài sản như: 01 máy cắt Maktec; 01 máy cắt Ken – Mod 9917B; 01 máy khoan Crown; 01 máy hàn Ws 215; 02 máy đục Hitachi H41SA2; 01 máy đục cỡ lớn Feg Mod:Eg 585 đựng trong hộp kim loại (Tất cả đồ vật trên đã qua sử dụng). Sau khi phát hiện mất số tài sản trên, ông S đến trình báo Công an phường Long Hòa, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ. Qua xác minh ban đầu phát hiện đối tượng Diệp Tuấn K đã lấy các tài sản nói trên.

Tại Công an phường Long Hòa,K khai nhận: Vào khoảng 22 giờ ngày 15/02/2022 khi đã uống rượu bia,K đi về căn nhà ông S đang sửa lại (Nhà này của ông nội củaK đã bán cho ông S).K trèo qua vách bên trong có thùng sắt lớn, đựng dụng cụ như máy khoan, máy đục, máy cắt bằng điện. Nhìn thấy xung quanh không có ai trông coi nên nảy sinh ý định trộm các tài sản trên.K mở nắp thùng lấy từng tài sản như: 01 máy cắt Maktec; 01 máy cắt Ken – Mod 9917B; 01 máy khoan Crown; 01 máy hàn Ws 215; 02 máy đục Hitachi H41SA2; 01 máy đục cỡ lớn Feg Mod:Eg 585 rồi đem để lên vách tường rào sau đó trèo ra ngoài rồi từ từ chuyển các tài sản đã lấy trộm đem cất giấu. Sau đó,K đã giao nộp lại các tài sản đã lấy trộm cho lực lượng chức năng.

Kết luận định giá tài sản số 12/KL-HĐ ĐGTS ngày 14/3/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Bình Thủy kết luận tổng các tài sản màK trộm được có giá trị 4.990.000 đồng.

Quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận Bình Thủy đã trả lại cho ông S các tài sản đã mất, ông S đã làm đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự choK.

Tại Bản Cáo trạng số 36/CT-VKSBT ngày 06/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thuỷ đã truy tố bị cáo về tội: “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015(Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo Bản Cáo trạng. Đồng thời phân tích hành vi phạm tội của bị cáo. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi; Bị cáo phạm tội chưa gây thiệt hại và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên đề nghị áp dụng Điều 38; Khoản 1 Điều 173; Điểm h, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 06 đến 09 tháng tù. Về xử lý vật chứng: Công an đã trả lại tài sản cho bị hại. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, ban hành quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Bình Thủy, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận:

Khoảng 22 giờ ngày 15/02/2022 tại nhà số 629B/10 khu vực Bình Yên A, phường Long Hòa, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ Diệp Tuấn K có hành vi lén lút lấy trộm tài sản của ông Thi Văn Thạch S. Tổng giá trị tài sản là 4.990.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015(Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, Hội đồng xét xử xác định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như Cáo trạng là có cơ sở, đúng pháp luật.

Bị cáo là người thành niên, có sức khỏe nhưng bị cáo không lao động chân chính để tạo thu nhập mà lại lấy trộm tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của công dân. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Bị cáo có nhân thân xấu. Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cãi; Phạm tội chưa gây thiệt hại và bị hại có đơn yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo Điểm h, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự(Sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Tài sản bị lấy trộm thuộc quyền sở hữu của bị hại nên Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận Bình Thủy đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả tài sản lại cho bị hại là phù hợp.

*Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000(Hai trăm nghìn)đồng theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173; Điều 38 ; Điểm h, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015(Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố bị cáo Diệp Tuấn K (Tên gọi khác: Thi) phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt bị cáo Diệp Tuấn K 09 (Chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ bị cáo chấp hành án.

Hình phạt bổ sung: Không.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015(Sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015.

Ghi nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận Bình Thủy đã trả tài sản cho bị hại theo Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 13/QĐ-ĐTTH ngày 21/3/2022 và Biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 21/3/2022.

3. Về trách nhiệm dân sự: Không giải quyết do bị hại không yêu cầu.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000(Hai trăm nghìn)đồng.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ