vanban.org

Bản án 36/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định Tuyên án 18/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố các bị cáo Cao Văn H, Hoàng Mạnh T phạm tội “Trộm cắp tài Xử phạt bị cáo Cao Văn H 02 (hai) năm 01 (một) tháng tù, thời hạn tù Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cao Văn H, Hoàng Mạnh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Lu…"
  • Tòa quyết gì? 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUÂN TRƯỜNG
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2022/HS-ST
Ngày: 18/5/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Thung.

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Trang;

Bà Đinh Thị Hồng Thơm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tùng - Thẩm tra viên Tòa án nhân

dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định

tham gia phiên toà: Ông Đặng Xuân Tự - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân

Trường, tỉnh Nam Định xét xử công khai, sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 31/2022/TLST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2022/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. Cao Văn H, sinh ngày 26/3/1999; nơi cư trú: Xóm 3, xã HV, huyện HH,

tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Cao Văn H và bà Bùi Thị S; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; bị cáo chưa có vợ con;

Tiền án: Không

Tiền sự: Ngày 25/12/2020 bị Công an huyện Xuân Trường xử phạt vi phạm

hành chính về hành vi mua số lô, số đề.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 23/12/2021 đến ngày 01/01/2022 chuyển tạm

giam; “có mặt”.

2. Hoàng Mạnh T, sinh ngày 18/9/2002 tại tỉnh SL; nơi cư trú: Xóm 12, xã HV, huyện HH, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Hoàng Đình S và bà Mai Thị C; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 22/12/2021 đến ngày 31/12/2021 chuyển tạm

giam; “có mặt”.

- Bị hại: Phòng Kinh tế và Hạ tầng huyện XT

+ Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn T - Chức vụ Trưởng

phòng;

+ Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Lê Văn L - Chuyên viên Phòng Kinh

tế và Hạ tầng huyện Xuân Trường (văn bản uỷ quyền ngày 27/12/2021); “có mặt”.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Bùi Thị S, sinh năm 1978; địa

chỉ: Xóm 3, xã HV, huyện HH, tỉnh Nam Định; “có mặt”.

- Người làm chứng:

1. Chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1983; “vắng mặt”;

2. Chị Phạm Thị H, sinh năm 1995; “vắng mặt”;

3. Ông Đinh Văn S, sinh năm 1969; “vắng mặt”;

4. Bà Đỗ Thị Y, sinh năm 1971; “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Phòng Kinh tế - Hạ tầng huyện Xuân Trường được giao quản lý khu vực đảo giao thông chân cầu Lạc Quần thuộc xóm 2 (xóm Đông Thành cũ), xã Xuân Ninh, huyện Xuân Trường. Từ khoảng tháng 8 năm 2021 đến tháng 12 năm 2021, Phòng Kinh tế - Hạ tầng huyện phát hiện tại khu vực đảo giao thông bị mất trộm nhiều tấm hàng rào trang trí kim loại sắt có đặc điểm tương tự giống nhau làm bằng sắt vuông đặc 1,4cm được uốn thành hoa văn, dài 194cm, cao 55cm, sơn màu xám, đã cũ nên đã có văn bản đề nghị với Công an huyện Xuân Trường để giải quyết.

Khoảng 01 giờ ngày 21/12/2021, Tổ công tác Công an huyện Xuân Trường phối hợp với Công an xã Xuân Ninh T hành tuần tra tại khu vực đảo giao thông thì phát hiện Cao Văn H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu trắng, biển kiểm soát: 18U1- 3474 chở Hoàng Mạnh T mang theo 01 búa đinh dài 38 cm có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra. Qúa trình kiểm tra, Cơ quan điều tra đã xác định H và T đã cùng nhau thực hiện hành vi trộm cắp các tấm hàng rào kim loại sắt nêu trên. Cơ quan điều tra đã T hành bắt giữ khẩn cấp đối với Cao Văn H và Hoàng Mạnh T, đồng thời đã thu giữ chiếc búa đinh cùng chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 18U1- 3474 các đối tượng sử dụng vào việc phạm tội.

Cơ quan điều tra đã T hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Cao Văn H, thu giữ: tại dưới chiếu đầu giường ngủ của Cao Văn H số tiền 4.780.000 đồng. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Hoàng Mạnh T không thu giữ gì.

Tại cơ quan Công an, Cao Văn H và Hoàng Mạnh T khai nhận:

Vào khoảng đầu tháng 8 năm 2021, Cao Văn H thường xuyên đến đảo giao thông khu vực chân cầu Lạc Quần thuộc xóm 2, xã Xuân Ninh, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định chơi vào buổi tối, đã quan sát, tìm hiểu phát hiện mối hàn của các tấm hàng rào kim loại sắt gắn với chân cột đã bị han gỉ, lung lay, không có người trông coi bảo vệ nên Cao Văn H đã nảy sinh ý định trộm cắp các tấm hàng rào trên bán để lấy tiền chi tiêu cá nhân. Cao Văn H đã rủ và bàn bạc với Hoàng Mạnh T chọn thời điểm vào lúc nửa đêm đến rạng sáng hàng ngày, H sử dụng xe mô tô nhãn hiệu Wave, sơn màu trắng, biển số: 18U1- 3474 của gia đình làm phương tiện di chuyển để thực hiện hành vi trộm cắp và chở các tấm hàng rào trên về nhà T cất giấu, sau đó chờ đến ban ngày cùng nhau mang đến các điểm thu mua phế liệu trên địa bàn huyện HH bán lấy tiền cùng nhau chi tiêu, T nhất trí. Từ khoảng ngày 28/8/2021 đến ngày 16/9/2021, H và T trộm cắp 10 lần lấy 30 tấm hàng rào. Từ khoảng ngày 07/11/2021 đến ngày 19/12/2021 trộm cắp 19 lần lấy 72 tấm hàng rào. Cụ thể như sau:

- Khoảng thời gian từ 01 đến 02 giờ, một ngày cuối tháng 8/2021 (khoảng ngày 28/8/2021); Cao Văn H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave, sơn màu trắng, biển số: 18U1- 3474 chở Hoàng Mạnh T từ xã HV, huyện HH đến khu vực đảo giao thông chân cầu Lạc Quần thuộc xóm 2, xã Xuân Ninh, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định quan sát thấy khu vực xung quanh vắng người và không có người trông coi bảo vệ nên H và T đã dừng xe dưới lòng đường, lén lút T đến giáp hàng rào kim loại sắt, cả 2 dùng chân đạp bẻ gẫy 03 tấm hàng rào sắt rời khỏi chân cột, đưa lên xe mô tô chở về nhà T cất giấu. Sau đó, khoảng 10 giờ cùng ngày, H và T chở 03 tấm hàng rào sắt trộm cắp được đến cửa hàng thu mua phế liệu tại xóm 5, xã Hải Nam, huyện HH, tỉnh Nam Định do chị Nguyễn Thị Q ở xóm 9, xã XN, huyện XT, tỉnh Nam Định làm chủ bán cho chị Q được 592.800 đồng.

Với cách thức, thủ đoạn, hình thức, phương tiện như trên:

- Khoảng ngày 30/8/2021, H và T trộm cắp 03 tấm hàng rào sắt mang về nhà T cất giấu đến khoảng 10 giờ cùng ngày chở đi bán cho chị Nguyễn Thị Q được số tiền 592.800 đồng.

- Khoảng ngày 02/9/2021, H và T trộm cắp 03 tấm hàng rào sắt rồi mang về nhà T cất giấu, sau đó mang đến bán cho chị Nguyễn Thị Quý được số tiền 592.800 đồng.

- Khoảng ngày 04/9/2021, H và T trộm cắp 03 tấm hàng rào sắt rồi mang về nhà T cất giấu sau đó mang đến bán cho chị Nguyễn Thị Q được số tiền 592.800 đồng.

- Khoảng ngày 06/9/2021, H và T trộm cắp 03 tấm hàng rào sắt rồi mang về nhà T cất giấu sau đó mang đến bán cho chị Nguyễn Thị Q được số tiền 592.800 đồng.

- Khoảng ngày 08/9/2021, H và T trộm cắp 03 tấm hàng rào sắt rồi mang về nhà T cất giấu, sau đó mang đến bán cho chị Nguyễn Thị Q được số tiền 592.800 đồng.

- Khoảng ngày 10/9/2021, H và T trộm cắp 03 tấm hàng rào sắt rồi mang về nhà T cất giấu sau đó mang đến bán cho chị Nguyễn Thị Q được số tiền 592.800 đồng.

- Khoảng ngày 12/9/2021, H và T trộm cắp 03 tấm hàng rào sắt rồi mang về nhà T cất giấu rồi mang đến bán cho chị Nguyễn Thị Q được số tiền 592.800 đồng.

- Khoảng ngày 14/9/2021, H và T trộm cắp 04 tấm hàng rào sắt rồi mang về nhà T cất giấu sau đó mang đến bán cho chị Nguyễn Thị Q được số tiền 790.400 đồng.

- Khoảng ngày 16/9/2021, H và T trộm cắp 02 tấm hàng rào sắt rồi mang về nhà T cất giấu đến khoảng 10 giờ cùng ngày, chở đến bán cho chị Phạm Thị H ở xóm 12, xã XN, huyện XT, tỉnh Nam Định làm nghề thu mua phế liệu tại xóm 4, xã HH, huyện HH, tỉnh Nam Định được số tiền 395.200 đồng.

- Khoảng ngày 07/11/2021, H và T trộm cắp 03 tấm hàng rào sắt rồi mang về nhà T cất giấu đến khoảng 09 giờ cùng ngày nhau chở đi tiêu thụ gặp và bán cho người làm nghề thu mua phế liệu trên đường đi (không xác định được tên tuổi, địa chỉ) được số tiền 666.900 đồng.

- Khoảng ngày 09/11/2021, H và T trộm cắp 03 tấm hàng rào sắt rồi mang về nhà T cất giấu, đến khoảng 09 giờ cùng ngày nhau chở đi tiêu thụ gặp và bán cho người làm nghề thu mua phế liệu trên đường (không xác định được tên tuổi, địa chỉ ở đâu) được số tiền 666.900 đồng.

- Khoảng ngày 11/11/2021, H và T trộm cắp 03 tấm hàng rào sắt, đến khoảng 09 giờ cùng ngày, cùng nhau chở đi tiêu thụ gặp và bán cho người làm nghề thu mua phế liệu trên đường (không xác định được tên tuổi, địa chỉ) được số tiền 666.900 đồng.

- Khoảng ngày 13/11/2021, H và T trộm cắp 04 tấm hàng rào sắt sau đó mang về nhà T cất giấu, đến khoảng 09 giờ cùng ngày, cùng nhau chở đi tiêu thụ gặp và bán cho người làm nghề thu mua phế liệu trên đường (không xác định được tên tuổi, địa chỉ) được số tiền 889.200 đồng.

- Khoảng ngày 15/11/2021, H và T trộm cắp 04 tấm hàng rào sắt sau đó mang về nhà T cất giấu, đến khoảng 09 giờ cùng ngày, cùng nhau chở đi tiêu thụ gặp và bán cho người làm nghề thu mua phế liệu trên đường (không xác định được tên tuổi, địa chỉ) được số tiền 889.200 đồng.

- Khoảng ngày 17/11/2021, H và T trộm cắp 04 tấm hàng rào sắt rồi mang về nhà T cất giấu, đến khoảng 09 giờ cùng ngày, cùng nhau chở đi tiêu thụ gặp và bán cho người làm nghề thu mua phế liệu trên đường (không xác định được tên tuổi, địa chỉ) được số tiền 889.200 đồng.

- Khoảng ngày 20/11/2021, H và T trộm cắp 04 tấm hàng rào sắt sau đó mang về nhà T cất giấu, đến khoảng 09 giờ cùng ngày, cùng nhau chở đến bán cho cửa hàng thu mua phế liệu tại xóm 4, xã Hải Hà, huyện HH, tỉnh Nam Định do vợ chồng anh Đinh Văn S và chị Đỗ Thị Y ở xóm 6, xã HH, huyện HH, tỉnh Nam Định làm chủ được 918.840 đồng.

- Khoảng ngày 23/11/2021, H và T trộm cắp 04 tấm hàng rào sắt sau đó mang về nhà T cất giấu rồi bán cho vợ chồng anh S, chị Y được số tiền 918.840 đồng.

- Khoảng ngày 25/11/2021, H và T trộm cắp 04 tấm hàng rào sắt rồi mang về nhà T cất giấu, sau đó mang đến bán cho vợ chồng anh S, chị Y được số tiền 918.840 đồng.

- Khoảng ngày 28/11/2021, H và T trộm cắp 04 tấm hàng rào sắt mang về nhà T cất giấu, sau đó mang đến bán cho vợ chồng anh S, chị Y được số tiền 918.840 đồng.

- Khoảng ngày 02/12/2021, H và T trộm cắp 04 tấm hàng rào sắt mang về nhà T cất giấu, sau đó mang đến bán cho vợ chồng anh S, chị Y được số tiền 918.840 đồng.

- Khoảng ngày 04/12/2021, H và T trộm cắp 04 tấm hàng rào sắt mang về nhà T cất giấu, sau đó mang đến bán cho vợ chồng anh S, chị Y được số tiền 918.840 đồng.

- Khoảng ngày 06/12/2021, H và T trộm cắp 04 tấm hàng rào sắt mang về nhà T cất giấu, sau đó mang đến bán cho vợ chồng anh S, chị Y được số tiền 918.840 đồng.

- Khoảng ngày 08/12/2021, H và T trộm cắp 04 tấm hàng rào sắt mang về nhà T cất giấu, sau đó mang đi bán cho vợ chồng anh S, chị Y được số tiền 918.840 đồng.

- Khoảng ngày 10/12/2021, H và T trộm cắp 04 tấm hàng rào sắt mang về nhà T cất giấu, sau đó mang đi bán cho vợ chồng anh S, chị Y được số tiền 918.840 đồng.

- Khoảng ngày 12/12/2021, H và T trộm cắp 04 tấm hàng rào sắt mang về nhà T cất giấu, sau đó mang đi bán cho vợ chồng anh S, chị Y được số tiền 918.840 đồng.

- Khoảng ngày 14/12/2021, H và T trộm cắp 04 tấm hàng rào sắt mang về nhà T cất giấu, sa đó mang đi bán cho vợ chồng anh S, chị Y được số tiền 918.840 đồng.

- Khoảng ngày 17/12/2021, H điều khiển xe mô tô chở T mang theo 01 búa đính dài 38 cm, cán gỗ tròn đường kính 05cm, đầu búa bằng kim loại sắt hình chữ nhật, kích thước (10x3x3) cm đến đảo giao thông khu vực chân cầu Lạc Quần. Đến nơi quan sát thấy vắng người qua lại, không có người trông coi bảo vệ, H và T xuống xe, dùng búa đinh đập gỡ lấy được 03 tấm hàng rào sắt rồi chở về nhà T cất giấu sau đó mang đến bán cho vợ chồng anh S, chị Y được số tiền 689.130 đồng.

- Khoảng ngày 19/12/2021, H và T tiếp tục mang theo 01 búa đinh chở nhau đến đảo giao thông khu vực chân cầu Lạc Quần, xã Xuân Ninh, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định thực hiện hành vi trộm cắp được 04 tấm hàng rào sắt sau đó mang về nhà T cất giấu, sau đó mang đến bán cho vợ chồng anh S, chị Y được số tiền 918.840 đồng.

Qúa trình điều tra, anh Đinh Văn S đã tự giác giao nộp cho Cơ quan điều tra 14 tấm hàng rào kim loại sắt.

Tại kết luận định giá tài sản số: 77/KL-HĐĐG ngày 30/12/2021 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự huyện Xuân Trường, kết luận: 102 thanh kim loại sắt hàng rào, có đặc điểm tương tự giống nhau: loại sắt vuông đặc 1,4cm được uốn thành hoa văn, dài 194cm, cao 55cm, trọng lượng trung bình 01 thanh là: 24,7 kg, sơn màu xám, đã cũ. Tại thời điểm chiếm đoạt từ tháng 8 đến tháng 12 năm 2021, tài sản có giá trị thành tiền là: 62.985.000 đồng. Mỗi thanh sắt có giá trị 25.000 đồng/01kg x 24,7 kg = 617.500 đồng. Tổng giá trị tài sản của 102 tấm hàng rào kim loại sắt trên là: 62.985.000 đồng.

Như vậy, từ cuối tháng 8 năm 2021 đến giữa tháng 9 năm 2021, tại khu vực đảo giao thông cầu Lạc Quần, xã Xuân Ninh, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định, Cao Văn H và Hoàng Mạnh T đã cùng nhau liên tiếp 10 lần thực hiện hành vi trộm cắp được 30 tấm hàng rào kim loại sắt có tổng giá trị 18.525.000 đồng. Từ ngày 07/11/2021 đến ngày 21/12/2021, H và T cùng nhau liên tiếp thực hiện 19 lần trộm cắp được tổng số 72 tấm hàng rào kim loại sắt, có tổng giá trị là 44.460.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, H và T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Cáo trạng số 31/CT-VKS ngày 14/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường đã truy tố Cao Văn H, Hoàng Mạnh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo thừa nhận tính đúng đắn, khách quan của các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và khai nhận toàn bộ hành vi cũng như không có khiếu nại gì về các kết luận định giá tài sản đã nêu.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đánh giá về hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo và giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự;

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Cao Văn H, Hoàng Mạnh T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Về hình phạt chính:

Xử phạt bị cáo Cao Văn H từ 02 năm 01 tháng đến 02 năm 04 tháng tù.

Xử phạt bị cáo Hoàng Mạnh T từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Hoàn cảnh kinh tế gia đình các bị cáo khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng của vụ án.

Về vật chứng của vụ án: Căn cứ vào điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; đề nghị Hội đồng xét xử: Trả lại cho bà Bùi Thị Sinh (mẹ đẻ bị cáo H) 01 xe mô tô biển kiểm soát 18U1- 3474; tịch thu tiêu huỷ 01 chiếc búa đinh.

Về trách nhiệm dân sự: Tiếp tục tạm giữ số tiền thu giữ của Cao Văn H

4.780.000đ là tiền các bị cáo phạm tội mà có và số tiền H và T mỗi bị cáo nộp 5.000.000đ để đảm bảo cho việc thi hành án; buộc các bị cáo còn phải bồi thường tiếp số tiền còn lại cho Phòng Kinh tế và Hạ tầng huyện Xuân Trường là 39.560.000đ, mỗi bị cáo phải nộp là 19.780.000đ.

Các bị cáo không tự bào chữa, tranh luận gì và tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Xuân Trường, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai tại giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của bị hại cũng như kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Từ cuối tháng 08 năm 2021 đến giữa tháng 9 năm 2021, Cao Văn H và Hoàng Mạnh T đã cùng nhau 10 lần liên tục, kế tiếp nhau về mặt thời gian thực hiện hành vi trộm cắp 30 tấm hàng rào sắt tại đảo giao thông khu vực chân cầu Lạc Quần, xã Xuân Ninh, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định (tài sản do Phòng Kinh tế và Hạ tầng huyện Xuân Trường quản lý) có tổng trị giá 18.525.000 đồng. Từ ngày 07/11/2021 đến ngày 21/12/2021, H và T cùng nhau lén lút trộm cắp 19 lần được 72 tấm hàng rào kim loại sắt có tổng trị giá 44.460.000 đồng. Tổng tài sản mà H và T đã cùng nhau trộm cắp là 102 tấm hàng rào sắt, tổng giá trị là 62.985.000 đồng. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Vì vậy, hành vi của bị cáo Cao Văn H, Hoàng Mạnh T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự như quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường đối với các bị cáo ra phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi trộm cắp tài sản của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an, gây tâm lý hoang mang cho quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần phải xử phạt các bị cáo theo quy định của pháp luật hình sự thì mới có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn theo quy định Điều 17 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo cùng rủ nhau trộm cắp tài sản, bị cáo H chuẩn bị phương tiện là xe máy, búa đinh để đi trộm cắp tài sản nên có vai trò đầu trong vụ án.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo H là người có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi mua số lô, số đề; bị cáo T là người có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường một phần thiệt hại; tại phiên toà đại diện cho bị hại đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Các bị cáo phạm tội nhiều lần nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt: Từ những phân tích trên, xét thấy cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, như vậy mới có tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Xét hoàn cảnh kinh tế gia đình các bị cáo khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo như quan điểm của đại diện viện kiểm sát đề nghị theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Trong qúa trình điều tra, anh Đinh Văn S đã tự giác giao nộp cho Cơ quan điều tra 14 tấm hàng rào kim loại sắt để trả cho bị hại. Đến nay anh S không yêu cầu các bị cáo H, T phải bồi thường nên không xem xét giải quyết.

Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại 14 tấm hàng rào kim loại sắt có giá trị 8.645.000đ. Số tiền thu giữ của Cao Văn H 4.780.000đ là tiền các bị cáo phạm tội mà có và số tiền H và T đã tác động gia đình tự nguyện nộp trước mỗi bị cáo nộp 5.000.000đ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Trường để bồi thường cho bị hại. Xét cần tiếp tục buộc các bị cáo phải bồi thường số tiền còn lại để bồi thường cho Phòng Kinh tế và Hạ tầng huyện Xuân Trường là 39.560.000đ. Chia theo phần: Bị cáo H còn phải nộp 19.780.000đ , bị cáo T còn phải nộp 19.780.000đ.

Về vật chứng và tài sản thu giữ: Cơ quan điều tra đã thu giữ của Cao Văn

H 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu trắng, biển kiểm soát: 18U1- 3474 và 01 búa đinh dài 38 cm. Chiếc xe mô tô mà các bị cáo dùng để chở nhau đi trộm cắp tài sản là tài sản hợp pháp của bà Bùi Thị Sinh (mẹ đẻ bị cáo H). Bà Sinh không biết bị cáo H mượn xe để đi trộm cắp tài sản nên trả lại chiếc xe cho bà Sinh. Xét cần tịch thu tiêu huỷ 01 chiếc búa đinh đã cũ không còn giá trị sử dụng.

Đối với Nguyễn Thị Quý, Phạm Thị Huyền, Đinh Văn S và Đỗ Thị Y đã nhiều lần mua các tấm hàng rào kim loại của H và T. Qúa trình điều tra xác định những lần mua bán H và T đều nói “của gia đình không dùng nữa, bố mẹ cho đem bán”, đồng thời việc giao dịch diễn ra vào ban ngày, giá mua theo giá đồng nát thị trường, khi mua không biết đó là tài sản do H và T trộm cắp mà có nên không đủ căn cứ xử lý Nguyễn Thị Quý, Phạm Thị Huyền, Đinh Văn S và Đỗ Thị Y về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có nên đã nhắc nhở, rút kinh nghiệm là phù hợp pháp luật.

Đối với những người thu mua phế liệu trên dong đường không rõ tên, tuổi, địa chỉ. Cơ quan điều tra đã T hành kiểm tra xác minh nhưng không làm rõ được. Vì vậy, không có căn cứ để thu hồi tài sản và xem xét xử lý.

Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản

2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự;

- Tuyên bố các bị cáo Cao Văn H, Hoàng Mạnh T phạm tội “Trộm cắp tài

sản”;

+ Xử phạt bị cáo Cao Văn H 02 (hai) năm 01 (một) tháng tù, thời hạn tù

tính từ ngày 23/12/2021.

+ Xử phạt bị cáo Hoàng Mạnh T 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày

22/12/2021.

2. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm b khoản 1,

khoản 2 Điều 47; khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các Điều 585, 586, 587, 589 Bộ luật Dân sự;

- Tiếp tục tạm giữ số tiền thu giữ của Cao Văn H 4.780.000đ là tiền các bị

cáo phạm tội mà có và số tiền H và T mỗi bị cáo nộp 5.000.000đ để đảm bảo cho việc thi hành án; buộc các bị cáo còn phải bồi thường tiếp số tiền còn lại cho Phòng Kinh tế và Hạ tầng huyện Xuân Trường là 39.560.000đ. Chia phần: Bị cáo H còn phải nộp 19.780.000đ , bị cáo T còn phải nộp 19.780.000đ.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi

hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

- Trả lại 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu trắng, biển

kiểm soát: 18U1- 3474 cho bà Bùi Thị Sinh (mẹ đẻ bị cáo H).

- Tịch thu tiêu huỷ 01 chiếc búa đinh đã cũ không còn giá trị sử dụng.

(Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số

57/CCTHA ngày 04/5/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Xuân Trường và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Trường và các Biên lai thu tiền số 0001576, 0001577 cùng ngày 05/4/2022 và số 0001718 ngày 29/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Trường).

3. Án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều

23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

- Buộc các bị cáo Cao Văn H, Hoàng Mạnh T mỗi bị cáo phải nộp

200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm;

- Buộc các bị cáo Cao Văn H, Hoàng Mạnh T mỗi bị cáo phải nộp

989.000đ (chín trăm tám mươi chín nghìn) án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo; bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ

liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi

hành án dân sự, thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ