- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cao Minh T Hủy hoại tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Giao bị cáo Cao Minh T cho UBND xã NG, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2022/HS-ST Ngày 21 - 6 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lài.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Như Khôi.
Bà Hoàng Thị Thúy Giang.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Anh, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Đậu Công Hữu - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 6 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 32/2022/TLST-HS, ngày 20 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2022/ QĐXXST-HS, ngày 09 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo:
Cao Minh T, sinh ngày 06 tháng 12 năm 1977 tại huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Xóm X, xã NG, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Văn T (Cao Mạnh T) (đã chết) và bà Phan Thị T (đã chết); họ và tên vợ: Trần Thị C; có 02 con; tiền sự: Không; tiền án: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/4/2022 đến ngày 09/4/2022, hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
- Bị hại: Chị Trần Thị C, sinh năm 1976; địa chỉ: Xóm X, xã NG, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
- Người làm chứng:
+ Anh Trần Công L, sinh năm 1983; địa chỉ: Xóm X, xã NG, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
+ Bà Cao Thị H, sinh năm 1967; địa chỉ: Xóm M, xã TL, huyện CL, tỉnh Hà Tĩnh; có mặt.
+ Ông Bùi Đình H, sinh năm 1951; địa chỉ: Xóm X, xã NG, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
+ Anh Cao Văn T, sinh năm 1979; địa chỉ: Xóm X, xã NG, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An; có mặt.
+ Anh Cao Mãnh T, sinh năm 1985; địa chỉ: Xóm X, xã NG, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An; có mặt.
+ Bà Cao Thị H, sinh năm 1972; địa chỉ: Xóm Y, xã NG, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 17 giờ 00 phút, ngày 05/4/2022, khi đi làm về Cao Minh T đang uống rượu cùng những người khác thì nhận được điện thoại của vợ là chị Trần Thị C nói T về nhà ăn cơm. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, Cao Minh T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 38C1-350.16, nhãn hiệu WANA, màu sơn xanh đi về nhà tại xã NG, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Sau khi vào nhà, giữa Cao Minh T và chị Trần Thị C xảy ra mâu thuẫn, cãi vã nên T đã đuổi chị C ra khỏi nhà. Chị C đi ra khỏi nhà và trốn vườn trồng ngô phía trước nhà anh Cao Mãnh T. Sau đó, T gọi và nói với con trai là Cao Văn Anh D lấy 01 con dao dài khoảng 45 cm để chặt ngô tìm chị C. Thấy vậy, chị C trốn sang nhà Cao Văn T. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, Cao Minh T không tìm thấy chị C nên đã về nhà đạp đổ và dùng 01 (một) bật lửa trong túi áo đốt 02 (hai) chiếc xe mô tô: 01 (một) chiếc xe mô tô biển kiểm soát 37B1-903.42, nhãn hiệu Yamaha, màu sơn đen bạc (là tài sản riêng của chị Trần Thị C); 01 (một) chiếc xe mô tô biển kiểm soát 38C1-350.16, nhãn hiệu WANA, màu sơn xanh (là tài sản riêng của Cao Minh T).
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 05/KL-HĐĐGTS ngày 07/4/2022 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân huyện Nam Đàn kết luận: 01 (một) chiếc xe mô tô biển kiểm soát 37B1-903.42, nhãn hiệu Yamaha, màu sơn đen bạc số máy 5C61-155063, số khung 7Y-155063, được đưa vào sử dụng năm 2007, thời điểm đến ngày 05/4/2022 có giá trị 3.000.000 đồng (ba triệu đồng).
Bản cáo trạng số 37/CT-VKSNĐ, ngày 19/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An truy tố Cao Minh T về tội “Hủy hoại tài sản” theo khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn giữ quyền công tố, luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Bị cáo Cao Minh T phạm tội “Hủy hoại tài sản”. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Cao Minh T mức án từ 06 đến 08 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 16 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) chiếc bật lửa ga màu đỏ thu giữ của Cao Minh T. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị hại không có yêu cầu bồi thường dân sự, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nam Đàn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Cao Minh T đã khai nhận hành vi của mình phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 05/4/2022, tại xóm X, xã NG, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, Cao Minh T đã dùng 01 (một) chiếc bật lửa đốt 01 (một) chiếc xe mô tô mang biển kiểm soát 37B1-903.42, nhãn hiệu Yamaha, màu sơn đen bạc, số máy 5C61-155063, số khung 7Y-155063 thuộc quyền sở hữu của chị Trần Thị C làm chiếc xe mô tô mất hoàn toàn giá trị sử dụng, không còn khả năng khôi phục lại với giá trị thiệt hại là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng). Hành vi của Cao Minh T đủ yếu tố cấu thành tội "Hủy hoại tài sản" theo quy định khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự. Bản Cáo trạng số 37/CT-VKSNĐ, ngày 19/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
. Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Đây là vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm mất trật tự trị an trên địa bàn, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Vì vậy cần xử lý nghiêm để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đầu thú, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Xét bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ; có nơi cư trú rõ ràng; có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo được cải tạo tại địa phương như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An cũng đủ nghiêm và không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là lao động tự do, không có tài sản riêng gì nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Trần Thị C không có yêu cầu bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô biển kiểm soát 37B1-903.42, nhãn hiệu Yamaha, màu sơn đen bạc số máy 5C61-155063 đã bị đốt cháy còn lại phần khung xe; 01 (một) chiếc xe mô tô biển kiểm soát 38C1-350.16, nhãn hiệu WANA, màu sơn xanh đã bị đốt cháy còn lại phần khung xe và 01 (một) con dao dài 45 cm, cán bằng gỗ dài 10 cm, lưỡi dao dài 35 cm, Cơ quan Điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với 01 (một) chiếc bật lửa ga màu đỏ là công cụ dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Cao Minh T 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng về tội “Hủy hoại tài sản”. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Cao Minh T cho UBND xã NG, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục. Gia đình những người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Bị cáo được hưởng án treo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự, nếu cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 90, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) chiếc bật lửa ga màu đỏ thu giữ của Cao Minh T. Vật chứng này hiện có tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Đàn và có đặc điểm chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 20/5/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Nam Đàn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Cao Minh T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: [ơ - VKSND huyện Nam Đàn; - Bị cáo; bị hại; - Cơ quan Điều tra, Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An; - Lưu HSVA, VP.TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Lài |