- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức T phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội Trộm cắp tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG KHÊ TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 36/2022/HS-ST Ngày 07 - 9 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG KHÊ, TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Kim Đồng; ông Nguyễn Văn Việt.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Khuyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hương Khê.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hương Khê tham gia phiên tòa: Ông Lê Thuần Thắng, Kiểm sát viên.
Ngày 07/9/2022, tại điểm cầu trung tâm Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh kết nối với điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an Hà Tĩnh, xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 19/2022/TLST-HS ngày 30/5/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2022/QĐXXST-HS ngày 25/8/2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Đức T (tên gọi khác: Không); sinh ngày 18/8/1976 tại xã P, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh; hộ khẩu thường trú: Xóm X, xã P, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh; nơi tạm trú: Thôn H, xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Nhân viên bảo vệ; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam sinh hoạt tại Chi bộ X, Đảng bộ xã P (hiện bị đình chỉ sinh hoạt Đảng theo Quyết định số 46-QĐ/UBKTHU ngày 02/6/2022 của Ủy ban kiểm tra Huyện ủy Hương Khê); con ông Nguyễn Đức T (đã chết) và bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1954; có vợ là Nguyễn Thị H và 02 đứa con, đứa lớn 18 tuổi, nhỏ 16 tuổi; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/5/2022 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh; có mặt tại điểm cầu thành phần.
* Tại điểm cầu Trung tâm Tòa án nhân dân huyện Hương Khê:
- Bị hại: Anh Chu Văn Đ; sinh năm 1979; địa chỉ: Tổ dân phố Y, thị trấn Hương Khê, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Đan L; sinh ngày 30/6/2004; địa chỉ: Xóm L, xã H, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh; có mặt.
- Người tham gia tố tụng khác: Cán bộ, chiến sỹ tại điểm cầu thành phần hỗ trợ phiên tòa: Đồng chí Dương Văn T; Nguyễn Quốc V; Trần Trung H; Đội Cảnh sát bảo vệ - Trại tạm giam Công an Hà Tĩnh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 24/5/2022, Nguyễn Đức T đi bộ từ nhà đến khu vực chợ cũ thuộc tổ dân phố K, thị trấn Hương Khê để mua đồ dùng cá nhân. Sau khi mua xong, trên đường đi về nhà, Nguyễn Đức T phát hiện có một chiếc xe mô tô biển kiểm soát 73K3-6698 cắm sẵn chìa khóa đang để trước sân nhà văn hóa tổ dân phố M, thị trấn Hương Khê nên này sinh ý định lấy trộm. Sau khi quan sát xung quanh thấy không có ai, T bật chìa khóa điện nổ máy rồi điều khiển chiếc xe mô tô trên về cất dấu tại nhà riêng của mình.
Sau khi bị mất trộm tài sản, anh Chu Văn Đ là chủ sở hữu chiếc xe mô tô trên có đơn trình báo đến cơ quan chức năng. Quá trình điều tra, xác minh, ngày 26/5/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Hương Khê khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Đức T phát hiện và thu giữ chiếc xe mô tô biển kiểm soát 73K3-6698 đang được T cất dấu tại nhà kho, Nguyễn Đức T thừa nhận hành vi lấy trộm tài sản của mình.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 37/KL-HĐĐG ngày 26/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Hương Khê kết luận chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, số máy 0033934, số khung 033920, biển kiểm soát 73K3-6698 có trị giá 2.700.000đ.
Vật chứng, tài sản thu giữ, xử lý: Cơ quan CSĐT Công an huyện Hương Khê thu giữ 01 chiếc xe mô tô nhãn hiện Honda Dream, biển kiểm soát 73K3-6698 và đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp anh Chu Văn Đ.
Về bồi thường dân sự: Bị hại anh Chu Văn Đ yêu cầu bồi thường 500.000đ là số tiền bị thiệt hại trong thời gian không có phương tiện đi lại. Bị cáo đã tác động với gia đình thực hiện xong việc bồi thường. Bị hại không có yêu cầu gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại bản Cáo trạng số 35/CT-VKS-HK ngày 08/8/2022 của Viện trưởng VKSND huyện Hương Khê truy tố bị cáo Nguyễn Đức T về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo tự nguyện khai nhận về hành vi phạm tội của mình như nội dung trên. Bị cáo không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng của bị cáo thể hiện sự ăn năn hối cải, xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Đức T về tội Trộm cắp tài sản. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 03 tháng 15 ngày đến 05 tháng tù; buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo tự nguyện khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án trên. Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo với lời khai của những người tham gia tố tụng và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ vụ án được xem xét công khai tại phiên tòa là phù hợp, có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 11 giờ ngày 24/5/2022, tại nhà văn hóa tổ dân phố M, thị trấn Hương Khê, huyện Hương Khê, lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản Nguyễn Đức T thực hiện hành vi lén lút lấy trộm chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát 73K3-6698, có trị giá 2.700.000đ của anh Chu Văn Đ. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng số 35/CT-VKS-HK ngày 08/8/2022 của Viện trưởng VSKND huyện Hương Khê truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội tại địa phương, do đó cần phải xét xử nghiêm minh mới đảm bảo tính giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại”; “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”; “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ khác tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy mặc dù tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt nhưng do nơi cư trú của bị cáo không rõ ràng nên đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/5/2022 đến nay, do đó cần áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức hình phạt tù bằng thời gian tạm giữ, tạm giam như mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp, đúng pháp luật.
Thời hạn tù của bị cáo bằng thời gian bị tạm giữ, tạm giam, do đó cần trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác theo quy định tại khoản 5 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Quan điểm của Đại diện VKS đề nghị về điều luật, tội danh, mức hình phạt và án phí là có căn cứ, phù hợp nên được chấp nhận.
Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
Bị hại anh Chu Văn Đ không có yêu cầu gì về bồi thường thiệt hại và chị Nguyễn Thị Đan L không yêu cầu bị cáo hoàn tiền đã bồi thường thay nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với vật chứng, tài sản Cơ quan CSĐT đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp trong giai đoạn điều tra đúng quy định, không ai có khiếu nại gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự; khoản 5 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội Trộm cắp tài sản.
2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T 03 tháng 15 ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/5/2022.
3. Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
4. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - Người có QLNVLQ; - VKSND huyện Hương Khê; - CQĐT Công an huyện Hương Khê; - Trại TG Công an Hà Tĩnh; - Chi cục THADS huyện Hương Khê; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - TAND tỉnh Hà Tĩnh; - Sở Tư pháp tỉnh Hà Tĩnh; - Lưu HSVA - VPTA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Thanh Tùng |