- Tranh chấp gì? án hình sự — "Siu P pham tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Siu P phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| - 1 - TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ SÊ TỈNH GIA LAI Bản án số:36/2022/HS-ST Ngày: 18 - 10 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ SÊ - TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Dậu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Tào Thị Mỹ Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Nay Jar - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 10 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 35/2022/TLST-HS, ngày 10/10/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2022/QĐXXST-HS, ngày 11/10/2022 đối với bị cáo:
Siu P, sinh năm 1993, tại: Chư Pưh, Gia Lai.
Nơi cư trú: Thôn Ô, R, huyện P, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Jrai; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Rmah H và bà Siu N; Bị cáo chưa có vợ; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị bắt phạm tội quả tang và tạm giữ ngày 18/9/2022, tạm giam từ ngày 21/9/2022 đến nay. Có mặt.
- Bị hại: Anh Nguyễn Văn L , sinh năm 1991. Vắng mặt.
Nơi cư trú: Tổ dân phố X, thị trấn S, huyện S, tỉnh Gia Lai.
-Người làm chứng: Anh Lê Văn H, sinh năm 1991. Vắng mặt.
Nơi cư trú: Tổ dân phố X, thị trấn S, huyện S, tỉnh Gia Lai.
- Người phiên dịch tiếng Jrai: Bà Nay C, cán bộ hưu trí.
Nơi cư trú: Tổ dân phố X, thị trấn S, huyện S, Gia Lai. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 00 giờ 10 phút ngày 18/9/2022, Siu P đi bộ một mình trong khu vực Tổ dân phố X, thị trấn S, huyện S, tỉnh Gia Lai phát hiện nhà của anh Nguyễn Văn L ở số nhà X Đ không khóa, bên trong có 01 ( một) xe mô tô BKS 81P1- 312.81, trên xe vẫn cắm chìa khóa. P nảy sinh ý định trộm cắp nên đã mở cửa cổng đi vào dắt xe mô tô ra đường và nổ máy diều khiển xe bỏ chạy. Khi chạy đến ngã tư giao nhau giữa đường tránh đông và đường M thì bị anh Nguyễn Văn L và anh Lê Văn H đuổi kịp, bắt quả tang.
- 2 -
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 42/KL-HDĐG ngày 20/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Chư Sê, kết luận giá trị xe mô tô BKS 81P1- 312.81 là 24.000.000đồng (Hai mươi bốn triệu đồng).
Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số: 38/CTr-VKS ngày 7/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê đã truy tố bị cáo Siu P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Siu P phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Siu P từ 12 đến 18 tháng tù; buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Chư Sê, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê, Kiểm sát viên:
Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị cáo có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng, bị bắt phạm tội quả tang, hành vi phạm tội đã được chứng thực, tội phạm bị cáo đã thực hiện thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên đủ điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn theo quy định tại Điều 456 Bộ luật Tố tụng hình sự.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 00 giờ 10 phút ngày 18/9/2022, lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản, Siu P đã lén lút trộm cắp 01( một) xe mô tô BKS 81P1- 312.81 có giá trị 24.000.000đồng (Hai mươi bốn triệu đồng) của anh Nguyễn Văn L ở số nhà X Đ, Tổ dân phố X, thị trấn S, huyện S, tỉnh Gia Lai. Hành vi đó của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê truy tố là đúng người, đúng tội.
. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng năng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- 3 -
Về hình phạt: Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ sở hữu tài sản của công dân được Nhà nước và pháp luật bảo vệ đồng thời gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Nguyên nhân động cơ phạm tội không phải do hoàn cảnh khó khăn mà là do bản tính tham lam, lười lao động. Thời gian gần đây trên địa bàn huyện Chư Sê thường xuyên xảy ra các vụ án trộm cắp tài sản đặc biệt là trộm cắp xe mô tô, gây hoang mang, lo sợ cho quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm mục đích giáo dục, cải tạo bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.
. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[6.] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì về phần dân sự nên miễn xét.
. Vật chứng:Tài sản đã được thu hồi trả lại cho bị hại nên miễn xét.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Siu P phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Siu P 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt phạm tội quả tang 18/9/2022.
2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.
Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm. Thời hạn trên đối với người vắng mặt tại phiên tòa là kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Gia Lai; - VKSND tỉnh Gia Lai; - VKSND huyện Chư Sê; - Công an huyện Chư Sê; - Chi cục THADS huyện Chư Sê; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | Bùi Thị Dậu |