- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Dương Tuấn H - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ vào điểm đ khoản 2 (thuộc điểm a, i khoản 1) Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2022/HS-ST Ngày: 22-6-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Tòng
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Trương Văn Thắng
2/ Ông Nguyễn Văn Diệp
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Trâm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Linh – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 6 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 22/2022/TLST - HS ngày 13 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2022/QĐXXST - HS ngày 08 tháng 6 năm 2022 đối với:
- Bị cáo: Nguyễn Dương Tuấn H, sinh năm 2000; tại tỉnh Bến Tre; ĐKTT: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông Nguyễn Tấn H1 (đã chết) và bà Dương Thị Thúy H2; Bị cáo có vợ tên Trương Thị Cẩm T1 và có 01 con sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 28/02/2022, bị công an xã Giao Long xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc bằng hình thức đá gà trái phép.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 04/4/2022 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Đặng Ngọc T, sinh năm 1999. Địa chỉ: Số A, ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre. (Có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Đặng Quốc S, sinh năm 1971. Địa chỉ: Số A, ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre. (Có mặt).
+ Bạch Minh T2, sinh năm 1989. Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre. (Có mặt).
- Người làm chứng:
+ Phan Văn T3, sinh năm 1961. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre. (Vắng mặt).
+ Trần Thị Diệu O, sinh năm 1976. Địa chỉ: Số A, ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Bến (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Dương Tuấn H và Đặng Ngọc T có quen biết và từng xảy ra xô sát với nhau vào năm học lớp 10. Khoảng 03 giờ 20 phút ngày 07/12/2021, T nhớ lại chuyện cũ và nhắn tin cho H khiêu khích đánh nhau. Đến sáng cùng ngày, H ngủ dậy thấy tin nhắn của T, sau đó cả 02 tiếp tục nhắn tin chửi nhau và hẹn gặp đánh nhau tại cổng Cảng Giao Long. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, H đem theo 01 con dao, loại dao chặt dừa, lưỡi dao bằng kim loại dài 27 cm, mũi nhọn, cán dao bằng gỗ dài 38 cm. T đem theo 01 cây gỗ tròn dài khoảng 40 cm. T đến cổng Cảng Giao Long, khu vực thuộc ấp Long Thạnh, xã Giao Long, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre trước chờ. Sau đó H đi đến, thấy T đang ngồi trên xe mô tô, quay lưng về phía mình, H dùng bề sống của dao chém 01 nhát trúng vào lưng của T làm rớt dao. H lượm dao lên và chém cái thứ 2 trúng vào vai trái của T gây thương tích. Lúc này anh Bạch Minh T2, chạy đến truy hô và can ngăn kêu H đi về. Còn T được gia đình đưa đi vào bệnh viện để điều trị thương tích.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 Điện thoại di động hiệu Redmi Note 8 Pro màu trắng của người bị hại Đặng Ngọc T; 01 Điện thoại hiệu OPPO F9 màu xanh đen có số Imei 860163041485298; gắn sim thuê bao số 0394506040 của bị cáo H; 01 con dao có đặc điểm: loại dao chặt dừa, lưỡi dao bằng kim loại dài 27 cm, mũi nhọn, cán dao bằng gỗ dài 38 cm.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 07-0122/TgT ngày 26/01/2022 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh Bến Tre kết luận thương tích của Đặng Ngọc T như sau:
- Vết thương mặt sau vai trái kích thước (12 x 05)cm kéo dài từ gai vai ra khớp cùng đòn đến đầu trên xương cánh tay: Cơ chế hình thành vết thương là do vật sắc nhọn gây ra; chiều hướng từ trên xuống, từ ngoài vào trong.
+ Xquang: gãy đầu trên xương cánh tay trái: 21%;
+ Hiện vết thương đã lành sẹo kích thước (13,5 x 0,3)cm: 02 %;
+ Vết mổ dẫn lưu lành sẹo, kích thước (01 x 0,2)cm: 01 %;
- Sây sát da lưng trái khoảng 12 cm, hiện lành sẹo, kích thước (13 x 0,5)cm: 02 %, cơ chế hình thành vết thương là do vật sắc nhọn gây ra; chiều hướng từ sau ra trước, từ ngoài vào trong.
Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích là 25%.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, anh Đặng Ngọc T yêu cầu bị cáo Nguyễn Dương Tuấn H bồi thường số tiền 86.500.000 đồng, bao gồm: chi phí đi lại điều trị thương tích là 12.000.000 đồng; tiền tổn thất tinh thần 74.500.000 đồng. Bị cáo H đã bồi thường cho Thành 10.000.000 đồng và đồng ý tiếp tục bồi thường theo yêu cầu của anh T.
Trong thời gian Đặng Ngọc T bị thương, điều trị, ông Đặng Quốc S, sinh năm 1971 (cha của T) là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, anh S không yêu cầu bị cáo bồi thường tiền mất thu nhập.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Bạch Minh T2 không yêu cầu nhận lại 01 con dao có đặc điểm: loại dao chặt dừa, lưỡi dao bằng kim loại dài 27 cm, mũi nhọn, cán dao bằng gỗ dài 38 cm.
Cáo trạng số 30/CT-VKSCT ngày 13/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành truy tố bị cáo Nguyễn Dương Tuấn H về “Tội Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 (thuộc điểm a, i khoản 1) Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Dương Tuấn H phạm “Tội cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm đ khoản 2 (thuộc điểm a, i khoản 1) Điều 134; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Dương Tuấn H từ 02 năm 06 tháng – 03 năm 06 tháng tù.
- Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo H đã tự nguyện bồi thường cho anh T số tiền 10.000.000 đồng và bị cáo H đồng ý tiếp tục bồi thường cho anh T số tiền 76.500.000 đồng.
- Xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 con dao có đặc điểm: loại dao chặt dừa, lưỡi dao bằng kim loại dài 27 cm, mũi nhọn, cán dao bằng gỗ dài 38 cm.
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại hiệu OPPO F9 màu xanh đen có số Imei 860163041485298; gắn sim thuê bao số 0394506040 của bị cáo H.
- Ghi nhận cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Châu Thành, đã trả 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 8 Pro màu trắng cho anh Đặng Ngọc T.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, đồng thời nói lời nói sau cùng của bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, người làm chứng Phan Văn T3 vắng mặt. Bị cáo không có ý kiến. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị tiếp tục xét xử. Hội đồng xét xử xét thấy những người vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử và đã có lời khai rõ ràng trong quá trình điều tra nên tiếp tục xét xử là phù hợp quy định tại Điều 293 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định.
Lời khai nhận của bị cáo trước tòa là phù hợp với lời trình bày của bị hại, người làm chứng về thời gian, địa điểm cũng như công cụ gây án và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án vì vậy Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Do có quen biết và từng xảy ra xô sát với nhau vào năm học lớp 10 nên khoảng 03 giờ 20 phút ngày 07/12/2021, T nhớ lại chuyện cũ và nhắn tin cho H khiêu khích đánh nhau, cả 02 hẹn gặp để đánh nhau. Khi đi T mang theo tay gấu sắt, H mang theo dao. Vào khoảng 11 giờ ngày 07/12/2021, tại khu vực gần cổng Cảng Giao Long, thuộc ấp Long Thạnh, xã Giao Long, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre, Nguyễn Dương Tuấn H đã có hành vi dùng 01 con dao có lưỡi dao bằng kim loại dài 27 cm, mũi nhọn, cán dao bằng gỗ dài 38cm chém vào vùng lưng trái và vai trái của Đặng Ngọc T gây thương tích cho T là 25%.
Do nhớ lại chuyện cũ trước đây nên bị hại T đã nhắn tin để thách thức, khêu khích bị cáo đánh nhau. Đến sáng cùng ngày, bị cáo H ngủ dậy thấy tin nhắn của Thành nên cả 02 tiếp tục nhắn tin chửi nhau và hẹn gặp đánh nhau tại cổng Cảng Giao Long. Khoảng 11 giờ cùng ngày, bị cáo H đem theo 01 con dao (là hung khí hung khí nguy hiểm) còn Thành đem theo 01 tay gấu bằng sắt và 01 cây gỗ tròn dài khoảng 40 cm (là hung khí hung khí nguy hiểm) để hẹn gặp nhau giải quyết mâu thuẫn tại cổng Cảng Giao Long. Tại đây, bị cáo H đã đã có hành vi dùng 01 con dao (là hung khí hung khí nguy hiểm) chém vào vùng lưng trái và vai trái của Đặng Ngọc T gây thương tích cho Thành là 25%. Điều này cho thấy bản tính côn đồ, xem thường pháp luật và sức khỏe người khác của bị cáo. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn bị cáo thực hiện, gây tâm lý bất an trong quần chúng nhân dân. Trong vụ án này, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp và thương tích của bị hại là do chính bị cáo gây ra. Do đó Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định bị cáo Nguyễn Dương Tuấn H phạm “Tội cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 (thuộc điểm a, i khoản 1) Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 với tình tiết định khung “dùng hung khí nguy hiểm” và “có tính chất côn đồ”. Truy tố và quan điểm luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ và đúng người, đúng tội nên được chấp nhận.
Xét tình tiết tăng nặng, bị cáo không có tình tiết tăng nặng nhưng bị cáo có nhân thân xấu bị cáo đã bị công an xã Giao Long xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc bằng hình thức đá gà trái phép vào ngày 28/02/2022.
Xét tình tiết giảm nhẹ, bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ như: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại cũng có phần lỗi là chủ động nhắn tin chửi và khêu khích bị cáo để đánh nhau đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Mặc dù, bị cáo có bồi thường cho anh T số tiền 10.000.000 đồng nhưng số tiền này là không đáng kể so với tổng số tiền mà bị hại đã yêu cầu bị cáo bồi thường, nên không đủ điều kiện để áp dụng tình tiết giảm nhẹ bồi thường thiệt hại theo điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, mà chỉ áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 cho bị cáo.
Bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn bị cáo gây án, tạo ta tâm lý bất an trong nhân dân. Với động cơ, tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng nên cần thiết phải áp dụng hình phạt tù để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người dân lương thiện, có ích cho xã hội đồng thời có tác dụng phòng ngừa tội phạm theo quy định tại Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Đặng Ngọc T yêu cầu bị cáo H bồi thường số tiền 86.500.000 đồng, bao gồm: chi phí điều trị 12.000.000 đồng; tiền tổn thất tinh thần 74.500.000 đồng. Bị cáo H đã bồi thường cho anh T 10.000.000 đồng. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị cáo H đồng ý bồi thường cho anh T số tiền 86.500.000 đồng, xét đây là sự tự nguyện không trái pháp luật, đạo đức xã hội được Hội đồng xét xử ghi nhận nên buộc bị cáo tiếp tục bồi thường cho anh T số tiền 76.500.000 đồng.
Xử lý vật chứng:
- Đối với 01 con dao có đặc điểm: loại dao chặt dừa, lưỡi dao bằng kim loại dài 27 cm, mũi nhọn, cán dao bằng gỗ dài 38cm là công cụ mà bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội là của anh Bạch Minh T2 nhưng anh T2 không có yêu cầu nhận lại do không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
- Đối với 01 điện thoại hiệu OPPO F9 màu xanh đen có số Imei 860163041485298; gắn sim thuê bao số 0394506040 của bị cáo H không phải là công cụ trực tiếp để bị cáo thực hiện hành vi phạm tội và bị cáo có yêu cầu được nhận lại nên trả lại cho bị cáo.
- Ghi nhận cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành, đã trả 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 8 Pro màu trắng cho Đặng Ngọc T.
Về án phí:
- Án hình sự sơ thẩm: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí là 200.000 đồng.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo chịu trách nhiệm dân sự nên phải chịu án phí sơ thẩm có giá ngạch là 76.500.000 x 5% = 3.825.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ vào điểm đ khoản 2 (thuộc điểm a, i khoản 1) Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Dương Tuấn H phạm “Tội cố ý gây thương tích”;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Dương Tuấn H 02 (Hai) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 04/4/2022.
[2] Căn cứ vào Điều 48 của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; các Điều 584, 585, 586, 591 khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015:
Về Trách nhiệm dân sự:
- Ghi nhận bị cáo Nguyễn Dương Tuấn H đã bồi thường cho anh Đặng Ngọc T số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
- Buộc bị cáo tiếp tục bồi thường cho anh Đặng Ngọc T số tiền 76.500.000 đồng (Bảy mươi sáu triệu năm trăm nghìn đồng).
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, đồng thời có đơn yêu cầu thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 cho đến khi thi hành xong.
[3] Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
- Tịch thu tiêu hủy 01 con dao có đặc điểm: loại dao chặt dừa, lưỡi dao bằng kim loại dài 27 cm, mũi nhọn, cán dao bằng gỗ dài 38 cm.
- Trả lại 01 điện thoại hiệu OPPO F9 màu xanh đen có số Imei 860163041485298; gắn sim thuê bao số 0394506040 cho bị cáo Nguyễn Dương Tuấn H.
- Ghi nhận cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Châu Thành, đã trả 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 8 Pro màu trắng cho anh Đặng Ngọc T.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Châu Thành với Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre).
[4] Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 23; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Dương Tuấn H phải chịu số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) đồng.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Dương Tuấn H chịu là số tiền 3.825.000 đồng (Ba triệu tám trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
Bị cáo, bị hại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bến Tre (1b); - VKSND tỉnh Bến Tre (1b); - STP tỉnh Bến Tre (1b); - VKSND huyện Châu Thành (1b); - Chi cục THADS huyện Châu Thành (1b); - Công an huyện (1b); - Bộ phận HS CA huyện (02b); - UBND xã An Hóa (01b); - Những người tham gia tố tụng; - Lưu: HS vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phan Thanh Tòng |