vanban.org

Bản án 36/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Hậu Giang Tuyên án 07/04/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 07/04/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận đơn kháng cáo của bị hại Phan Nhật Tr yêu cầu tăng hình phạt, tăng mức bồi thường thiệt hại và bỏ lọt tội phạm.

Tuyên bố: Nguyễn Chánh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Chánh Tín - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận đơn kháng cáo của bị hại Phan Nhật Tr yêu cầu tăng hình phạt, tăng mức bồi thường thiệt hại và bỏ lọt tội phạm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 334 Bộ luật Tố tụng hình sự hướng dẫn bổ sung và xử lý đơn kháng cáo
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2022/HS-PT
Ngày 07- 4- 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Thái Sơn.

Các Thẩm phán: Ông Hồ Văn Luông; Ông Hồ Hữu Thắng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khánh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Hứa Minh Thạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 12/2022/TLPT-HS ngày 28 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo Nguyễn Chánh T do có kháng cáo của bị hại đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 48/2021/HS-ST ngày 20 tháng 12 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang. (Sau đây gọi tắt là bản án sơ thẩm).

- Bị cáo bị kháng cáo:

Nguyễn Chánh T (tên gọi khác: T Cá Chép), sinh năm 1995; tại Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang; nơi cư trú: ấp T, xã Long, huyện C, tỉnh G; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Võ Thị N; vợ: Lê Thị Cẩm Đ; con: có 02 người con (lớn sinh năm 2014; nhỏ sinh năm 2020); tiền án: không; tiền sự: có 01 tiền sự: Ngày 10/4/2020 bị Công an huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi tụ tập gây mất trật tự công cộng, theo Quyết định số 544/QĐXPVPHC. Bị cáo chưa nộp tiền phạt; nhân thân: Ngày 05/8/2016 bị Công an xã Trường Xuân B, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi đánh nhau, theo quyết định số 15/QĐ-XPVPHC; bị bắt tạm giam từ ngày 01/6/2021 liên tục đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Phan Nhựt T, sinh năm 1987.

Nơi cư trú: ấp T, xã L, huyện C, tỉnh G. Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Trần Trung T, sinh năm 1992.

Nơi cư trú: ấp Trường Khương B, xã Trường Xuân B, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ. Chỗ ở hiện nay: ấp Trường Thọ A, xã Trường Long Tây, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt.

2. Phan Nhật N, sinh năm 1982.

Nơi cư trú: ấp Trường Phước, xã Trường Long Tây, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt.

3. Phan Tây Ng, sinh năm 1987.

Nơi cư trú: ấp Trường Phước, xã Trường Long Tây, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt.

4. Phan Hoàng S, sinh năm 1980.

Nơi cư trú: ấp Trường Phước, xã Trường Long Tây, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt.

5. Lê Thị Diễm M.

Nơi cư trú: ấp Trường Phước, xã Trường Long Tây, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt.

6. Nguyễn Văn H, sinh năm 1966.

Nơi cư trú: ấp Trường Phước A, xã Trường Long Tây, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang. Có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

1. Lê Văn T, sinh năm 1983. Là người làm chứng. Vắng mặt.

2. Phùng Thanh S, sinh năm 1989. Là người làm chứng. Vắng mặt.

3. Nguyễn Văn C, sinh năm 2002. Là người làm chứng. Vắng mặt.

4. Nguyễn Duy K, sinh năm 1994. Là người làm chứng. Vắng mặt.

5. Nhan Thành L, sinh năm 1995. Là người làm chứng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 18 giờ 10 phút ngày 03/11/2020, lực lượng Công an xã Trường Long Tây lập biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm của bị hại Phan Nhật T, sinh năm 1987, đăng ký thường trú tại ấp Trường Phước, xã Trường Long Tây, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang. T trình báo sự việc vào khoảng 17 giờ 45 phút ngày 03/11/2020, T đến quán cà phê T&T tại ấp Trường Thọ A, xã Trường Long Tây, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang thì bị bị cáo Nguyễn Chánh T dùng cây cơ dùng để đánh bi da đánh. Sự việc sau đó được mọi người can ngăn nên T đi về nhà, một lúc sau T quay lại quán cùng với T và Th, tại đây T tiếp tục dùng đoạn kim loại vuông đánh gây thương tích phải nằm viện điều trị.

Quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Chánh T khai: Sáng ngày 03/11/2020, T đến quán cà phê T&T tại ấp Trường Thọ A, xã Trường Long Tây, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang để chơi đánh bi da. Tại đây, T xảy ra mâu thuẫn cự cãi với bị hại Phan Nhật T. Khi T và T đứng đối diện nhau thì T dùng cây cơ bị da đánh trúng vào người T 01 cái, T tiếp tục đánh thêm 01 cái về phía của T, cây cơ bi da trúng vào ghế làm gãy cây cơ làm hai đoạn, T ném cây cơ tại nơi đánh T, T dùng chân đạp mạnh làm T té ngã xuống nền bê tông của quán, T dùng chân đạp dùng tay đánh khoảng 2-3 cái vào người T thì được mọi người can ngăn nên T đi về, T vẫn tiếp tục ở lại quán. Một lúc sau, bị hại T cùng với Lê Văn T, Lê Duy T quay lại quán T&T tìm T. Nghe tin T bị đánh thì Phan Nhật N, Phan Hoàng S, Phan Tây N cũng đến quán T&T để hỏi T sự việc đánh Tr. Trong lúc nói chuyện, thách thức qua lại thì T dùng tay đánh vào người Ng nên Ng bỏ chạy. Lúc này, Phan Nhật N cầm cây ty phuộc xe đánh về phía T, T giơ tay phải lên đỡ nên N đánh trúng vào tay phải của T và làm rớt cây ty mà N cầm, T dùng tay đánh nhiều cái vào người N nên N cũng bỏ chạy đi nơi khác. Sau đó, T quay trở lại vào trong quán ăn phở, lúc này Phan Hoàng S đến dùng dao chém về hướng của T, T dùng ghế đỡ nên chỉ trúng vào tay trái. Lúc này, T nhặt được trong quán T&T một đoạn kim loại vuông dài khoảng 50 cm đánh trúng vào hông sườn trái của S 01 cái, S bỏ chạy ra phía trước cửa quán nên T cầm đoạn kim loại đuổi theo định đánh S nhưng đến trước cửa quán thì T bị trượt chân nên không đánh trúng S. Lúc này, Phan Nhật Tr từ phía sau dùng ghế cây đánh trúng vào lưng T 01 cái. T quay lại dùng thanh kim loại vuông đánh Tr, Tr dùng ghế đỡ nên làm gãy chân ghế, trên tay Tr chỉ còn lại hai chân ghế nên Tr bỏ chạy qua cổng Trường trung học phổ thông Tr Long Tây và bị té ngã, T chạy đến dùng đoạn kim loại vuông đánh từ trên xuống, Tr cầm khúc chân ghế giơ lên đỡ nhưng T vẫn đánh trúng nhiều cái vào người Tr. Thấy Tr ngất xỉu nên T quay lại quán lấy xe mô tô chạy đến đoạn cầu 5000 T ném đoạn kim loại xuống sông. Nguyễn Chánh T thừa nhận có hành vi gây thương tích ở nhiều vị trí trên cơ thể của bị hại Phan Nhật Tr. Việc nhóm của Tr quay lại tìm T, T hoàn toàn không biết trước và không có sự phòng bị, trong lúc đánh nhau cũng không rủ rê, lôi kéo những người khác tham gia đánh nhau cùng với T.

Đối với Phan Nhật Tr khai: Khi gặp T tại quán T&T thì T dùng cây cơ bi da đánh trúng về hướng Tr, Tr giơ tay trái lên đỡ làm gãy cây cơ thành hai đoạn. Tr chạy ra phía trước quán lấy xe chạy về nhà thì bị một người thanh niên (không xác định được là ai) xô ngã xe và đánh liên tiếp vào người, Tr bỏ chạy và nhờ người chở về nhà dùm. Sau đó, Tr nói sự việc bị T đánh cho T và Th nghe và cùng T, Th quay lại quán T&T để nói chuyện với T đồng thời lấy xe và điện thoại di động bị rớt tại quán. Sau khi quay lại quán lấy điện thoại xong, Tr quay ra cổng thì thấy có đánh nhau trước cửa quán, Tr đi ra thì bị T dùng ống tuýp sắt đập nhiều cái vào người, Tr dùng ghế gỗ cầm lên đỡ thì bị T đánh gãy ghế, Tr bị té xuống đất thì T tiếp tục dùng thanh kim loại vuông đánh nên Tr dùng tay giơ lên đỡ nên bị Tín đánh gãy tay, cùng lúc đó có nhiều người nhào vào đánh nhưng Tr không xác định được là người nào.

Nguyễn Văn C khai: Tại thời điểm xảy ra sự việc đánh nhau có mặt tại quán T&T, C không tham gia đánh nhau nhưng có cầm gạch đá để phòng thân và chạy tới lui nhiều lần gây mất an ninh trật tự.

Nguyễn Thanh T khai: Khoảng 18 giờ ngày 03/11/2020, T đi đến quán cà phê T&T để uống cà phê thì thấy có hai nhóm thanh niên đánh nhau trước cửa quán. T đi ra xem thì thấy có người thanh niên sau này mới biết là Phan Hoàng S cầm dao rượt T, T chạy vào quán cầm ghế chọi về phía của S, lúc này T thấy trong quán có một cây sắt đầu nhọn dài khoảng 01 mét nên chụp lấy đâm nhiều cái về phía của S từ phía sau, S bị vấp té thì T tiếp tục dùng cây sắt có đầu nhọn đâm theo hướng từ trên xuống. Đối chiếu lời thừa nhận của Nguyễn Thanh T là phù hợp với các thương tích thể hiện tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 04/21/TGT ngày 31/12/2020 đối với Phan Hoàng S. Tuy nhiên, Nguyễn Thanh T đã tử vong vào ngày 14/4/2021 do bị tai nạn giao thông.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã làm việc với Nguyễn Văn C, Phùng Vủ L, Phùng Thanh S, Nguyễn Duy Kh, Nhan Thành L các đối tượng trên thừa nhận có mặt tại quán T&T khi T đánh nhau với nhóm của Tr. Tuy nhiên các đối tượng trên không thừa nhận có tham gia đánh nhau. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành A không có chứng cứ chứng minh hành vi đánh nhau của các đối tượng này.

Tỷ lệ thương tích được giám định như sau:

Đối với Phan Nhật Tr:

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 03/21/TgT ngày 30/12/2020 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế Hậu Giang đã giám định và kết luận:

Dấu hiệu chính tại thời điểm giám định: Đa vết thương phần mềm. Gãy xương bàn ngón III bàn tay trái gây ảnh hưởng chức năng ngón III.

Tỷ lệ thương tích gây tổn hại đến sức khoẻ hiện tại của Phan Nhật Tr. Theo TT số 22/2010/TT-BYT là 16% (Mười sáu phần trăm).

Vật gây thương tích: Các vết thương trên do vật tày gây nên.

Đối với Phan Hoàng S:

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 04/2/TgT ngày 31/12/2020 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế Hậu Giang đã giám định và kết luận:

Đa vết thương, chấn thương phần mềm. Tổng tỷ lệ thương tích của Phan Hoàng S là 09%.

Vật gây thương tích: Vết thương mặt ngoài cẳng chân phải, vết thương khoeo chân phải, vết thương mặt trong 1/3 trên cẳng chân phải: Do vật sắc bén gây nên: Vết thương khuỷu tay phải và vết thương biến đổi sắc tố da cẳng tay phải do vật tày gây nên.

Đối với Nguyễn Chánh T:

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 114/TgT ngày 06/7/2021 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế Hậu Giang đã giám định và kết luận:

Vết thương cách tay trái gây tổn hại sức khoẻ hiện tại. Theo TT số 22/2014/TTBYT là 01%; Vết thương cẳng tay phải gây tổn hại sức khoẻ hiện tại. Theo TT số 22/2013/TT-BYT là 01%.

Tổng tỷ lệ thương tích tổn hại đến sức khoẻ hiện tại của Nguyễn Chánh T. Theo TT số 22/2014/TT-BYT là 02%.

Vật gây thương tích: Vết thương cánh tay trái do vật sắc bén gây nên; Vết thương cẳng tay phải do vật tày gây nên.

Ngày 15/7/2021, Nguyễn Chánh T có đơn không yêu cầu xử lý đối với thương tích bị gây ra và không yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Đối với Nguyễn Thanh T sau khi gây thương tích cho Phan Hoàng S đã bị tai nạn giao thông tử vong do đó không tiếp tục xử lý hình sự.

Đối với Phan Hoàng S, Phan Nhật N, Phan Nhật Tr, Phan Tây Ng, Nguyễn Văn C có hành vi gây rối trật tự công cộng, Công an huyện Châu Thành A đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Vật chứng của vụ án đã tạm giữ gồm:

- 01 khúc gỗ màu nâu loại cơ bi da dài 102 cm bị gãy một đầu, đường kính đầu nhỏ 04cm, một đầu 08cm (Bút lục số 14);

- 01 khúc gỗ màu nâu loại cơ bi da dài 40 cm, một đầu có đường kính 08 cm và một đầu có đường kính 10 cm (Bút lục số 14);

- Tiền Việt Nam 20.000.000 đồng, là tiền bị cáo Nguyễn Chánh T tự nguyện giao nộp để bồi thường thiệt hại cho người bị hại Phan Nhật Tr (Bút lục số 118);

Về trách nhiệm dân sự:

Sau khi bị Nguyễn Chánh T đánh Phan Nhật Tr đã nằm viện tại Bệnh viện Quân y 121 từ ngày 06/11/2020 đến ngày 10/11/2020 thì xuất viện. Theo đơn yêu cầu bồi thường ngày 03/12/2021, bị hại yêu cầu tổng số tiền 85.671.000 đồng bao gồm các khoản sau: tiền tổn thất tinh thần 10 tháng lương tối thiểu số tiền 14.900.000 đồng; tiền công lao động trong 03 tháng nghỉ dưỡng, mỗi tháng 21.000.000 đồng tương đương số tiền 63.000.000đồng; tiền ăn, uống khi nằm viện 180.000đồng/ngày x 5 ngày số tiền 900.000đồng; tiền thuốc và viện phí số tiền 5.371.000 đồng; Chi phí đi lại số tiền 1.500.000đồng. Tại phiên tòa sơ thẩm, bị hại rút phần tiền ăn 900.000 đồng, chỉ yêu cầu bồi thường số tiền 84.771.000 đồng.

- Lê Thị Diễm M (vợ Tr) yêu cầu bồi thường tiền công mất thu nhập trong 05 ngày nuôi bệnh tương ứng số tiền 1.500.000 đồng, tại phiên tòa sơ thẩm, chị M không yêu cầu bồi thường tiền công nuôi bệnh đối với anh Tr.

- Phan Hoàng S yêu cầu bị cáo Nguyễn Chánh T bồi thường 19.500.000 đồng tiền thuốc, tiền công 50 ngày, mỗi ngày 200.000 đồng tương đương 10.000.000 đồng. Tại phiên tòa sơ thẩm, Phan Hoàng S rút lại yêu cầu bồi thường đối với bị cáo T.

- Phan Nhựt N yêu cầu bị cáo T bồi thường tiền thuốc 2.577.000 đồng, không yêu cầu tiền công lao động. Tại phiên tòa sơ thẩm, Phan Nhựt N rút yêu cầu bồi thường đối với T.

Trong quá trình tố tụng, Phan Tây Ng yêu cầu bị cáo T bồi thường tiền thuốc 1.222.000 đồng, không yêu cầu tiền công lao động. Tại phiên tòa sơ thẩm, Phan Tây Ng rút yêu cầu bồi thường đối với T.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 48/2021/HS-ST, ngày 20 tháng 12 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Chánh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 292, Điều 293, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Chánh T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/6/2021. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo việc Thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 590 Bộ luật dân sự.

Ghi nhận tự nguyện của bị cáo Nguyễn Chánh T bồi thường tiền thuốc và chi phí điều trị cho bị hại Phan Nhật Tr số tiền 5.371.000 đồng.

Buộc bị cáo bồi thường cho bị hại Phan Nhật Tr số tiền 20.920.000 đồng (Trong đó, chi phí đi lại 1.500.000 đồng, tiền công lao động 7.500.000 đồng, tiền tổn thất về tinh thần 11.920.000 đồng). Tiếp tục tạm giữ số tiền 20.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án để đảm bảo thi hành án.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về phần xử lý vật chứng; trách nhiệm dân sự khác; án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 30 tháng 12 năm 2021 bị hại Phan Nhật Tr kháng cáo yêu cầu tăng mức hình phạt tù; tăng trách nhiệm bồi thường thiệt hại về sức khỏe đối với bị cáo; yêu cầu xem xét lại bản án do có bỏ lọt tội phạm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại Phan Nhật Tr vắng mặt không phát biểu yêu cầu mới, nên được hiểu bị hại vẫn giữ nguyên yêu cầu như trong đơn kháng cáo. Trình bày lý do kháng cáo là: Bản án sơ thẩm xử mức hình phạt tù cho bị cáo là quá nhẹ, không đủ sức răn đe, yêu cầu tăng mức hình phạt tù; bản án sơ thẩm bỏ lọt tội phạm đối với Phùng Vũ L, Phùng Thanh S, Nguyễn Văn C, Nguyễn Thanh T, Nguyễn Duy Kh; bản án sơ thẩm buộc bị cáo bồi thường hiệt hại chưa phù hợp, yêu cầu tăng mức bồi thường.

Đại diện Viện kiểm sát trình bày ý kiến như sau:

- Đơn kháng cáo của bị hại Phan Nhật Tr thể hiện trong hồ sơ vụ án là đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục và thời hạn theo quy định của pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét đơn kháng cáo của bị hại theo thủ tục phúc thẩm.

- Về giải quyết vụ án: Bản án sơ thẩm xử bị cáo Nguyễn Chánh T phạm tội Cố ý gây thương tích là có căn cứ, đúng pháp luật; mức hình phạt áp dụng cho bị cáo là đúng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đề nghị giữ nguyên mức hình phạt tù. Về trách nhiệm dân sự, cấp sơ thẩm đã xem xét buộc bị cáo bồi thường thiệt hại về sức khỏe với số tiền 26.291.000 đồng là phù hợp với thiệt hại, đề nghị giữ nguyên mức bồi thường. Về yêu cầu cho rằng bản án còn bỏ lọt tội phạm, xét quá trình điều tra chứng minh được ngoài bị cáo T là người gây thương tích cho bị hại. Anh Nguyễn Thanh T gây thương tích cho Phan Hoàng S nhưng anh T đã chết. Ngoài ra Cơ quan điều tra không chứng minh được ai khác tham gia vào vụ án, nên yêu cầu cho rằng vụ án có bỏ lọt tội phạm là không có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử bác toàn bộ kháng cáo của bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Phát biểu bảo vệ quyền lợi: Bị hại Phan Nhật Tr vắng mặt tại phiên tòa nên không phát biểu.

Phát biểu tự bào chữa: Bị cáo Nguyễn Chánh T thừa nhận hành vi của mình là phạm tội, chấp nhận mức hình phạt bản án sơ thẩm đã tuyên. Không chấp nhận yêu cầu tăng mức bồi thường của bị hại. Về yêu cầu tăng mức hình phạt và cho rằng bản án bỏ lọt tội phạm, yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật.

Phát biểu đối đáp: Không ai phát biểu đối đáp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về xét xử vắng mặt: Bị hại Phan Nhật Tr đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng tại phiên toà vắng mặt (có đơn yêu cầu vắng mặt). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Trần Trung Th, Phan Nhật N, Phan Tây Ng, Phan Trường S và Lê Thị Diễm M tất cả vắng mặt không lý do . Xét thấy việc vắng mặt bị hại không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự, Toà án xét xử vắng mặt.

. Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị hại Phan Nhật Tr làm đơn kháng cáo bản án sơ thẩm. Đơn kháng cáo của bị hại được gửi đến Tòa án cấp sơ thẩm không thể hiện ngày tháng năm làm đơn kháng cáo là chưa đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 332 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đáng lẽ ra Tòa án cấp sơ thẩm phải căn cứ Điều 334 Bộ luật Tố tụng hình sự hướng dẫn bổ sung và xử lý đơn kháng cáo cho phù hợp. Tuy nhiên qua xem xét các chứng cứ khác thể hiện trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa đủ cơ sở xác định sau khi xét xử sơ thẩm bị hại Phan Nhật Tr có làm đơn kháng cáo và gửi đến Tòa án cấp sơ thẩm trong hạn luật định, nên Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét đơn theo thủ tục phúc thẩm.

. Về tội danh: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Chánh T thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát và bản án sơ thẩm quy kết. Đối chiếu lời khai của bị cáo với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án là phù hợp, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Vào ngày 03/11/2020 bị cáo Nguyễn Chánh T đến quán cà phê T&T để đánh bi da. Tại đây, T và Tr có cãi vã, T dùng cây cơ bi da (là hung khí nguy hiểm) đánh Tr thì được mọi người can ngăn. Tr rời khỏi quán, một lúc sau Tr cùng với Lê Văn T, Lê Duy Th quay lại quán tìm Tín. Phan Nhật N, Phan Hoàng S, Phan Tây Ng hay tin Tr bị đánh cũng có mặt (gọi chung là nhóm của Tr). Tại đây, hai bên thách thức qua lại thì T dùng tay đánh vào người Ng nên Ng bỏ chạy. Lúc này, Phan Nhật N cầm cây ty phuộc xe đánh về phía T, T giơ tay phải lên đỡ nên N đánh trúng vào tay phải của T và làm rớt cây ty, T dùng tay đánh nhiều cái vào người N nên N cũng bỏ chạy đi nơi khác. Sau đó, T quay trở vào trong quán ăn phở, lúc này Phan Hoàng S đến dùng dao chém về hướng của T, T dùng ghế đỡ nên chỉ trúng vào tay trái. Lúc này, T nhặt được trong quán T&T một đoạn kim loại vuông dài khoảng 50 cm đánh trúng vào hông sườn trái của Sơn 01 cái, Sơn bỏ chạy ra phía trước cửa quán nên T cầm đoạn kim loại đuổi theo định đánh Sơn nhưng đến trước cửa quán thì T bị trượt chân nên không đánh trúng S. Lúc này, Phan Nhật Tr từ phía sau dùng ghế cây đánh trúng vào lưng T 01 cái. T quay lại dùng thanh kim loại vuông đánh Tr, Tr dùng ghế đỡ nên làm gãy chân ghế, trên tay Tr chỉ còn lại hai chân ghế nên Tr bỏ chạy qua cổng Trường trung học phổ thông Trường Long T và bị té ngã, T chạy đến dùng đoạn kim loại vuông (là hung khí nguy hiểm) đánh từ trên xuống, Tr cầm khúc chân ghế giơ lên đỡ nhưng T vẫn đánh trúng nhiều cái vào người Tr gây thương tích, theo kết luận giám định là 16%. Với hành vi mà Nguyễn Chánh T đã thực hiện, Tòa án cấp sơ thẩm kết án bị cáo phạm tội Cố ý gây thương tích theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật Hình sự) là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của bị hại cho rằng vụ án còn bỏ lọt tội phạm, Hội đồng xét xử xét thấy: Việc xô xát xảy ra vào ngày 03/11/2020 tại quán T&T, thuộc ấp Trường Thọ A, xã Trường Long Tây, huyện Châu Thành A phía bên nhóm Phan Nhật Tr có 02 người bị thương tích, gồm: Phan Nhật Tr bị thương tích 16%, được xác định do bị cáo Nguyễn Chánh T dùng cây cơ bi da, sau đó là đoạn kim loại vuông đánh gây ra, tham gia vụ án với tư cách bị hại. Còn lại là Phan Hoàng S bị thương tích là 09% được xác định là do Nguyễn Thanh T dùng cây sắt đầu nhọn đâm gây ra thương tích. Quá trình điều tra Phùng Vủ L, Phùng Thanh S, Nguyễn Văn C, Nguyễn Duy Kh và Nhan Thành L khai sự việc xảy ra có mặt tại quán T&T nhưng không tham gia đánh nhau với ai. Cơ quan Cảnh sát điều tra cũng không chứng minh được các đối tượng này có tham gia vụ án với vai trò đồng phạm (ngoài Nguyễn Thanh T đã chết sau khi gây án). Cáo trạng Viện kiểm sát chỉ truy tố bị cáo Nguyễn Chánh T, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để kết án bị cáo Nguyễn Chánh T về hành vi gây thương tích cho bị hại Phan Nhật Tr về tội Cố ý gây thương tích là phù hợp. Bị hại Phan Nhật Tr khai, sau khi bị T đánh cây cơ bi da vào người Tr đỡ được, sau đó chạy ra phía trước lên xe định chạy về nhà thì bị một người xô ngã xe và đánh Tr, nhưng không xác định được là ai. Ngoài ra ở lần xô xát thứ hai Tr cũng không xác định được có ai khác tham gia đánh Tr ngoài T. Những người thuộc nhóm của T có mặt tại hiện trường khi xảy ra sự việc không thừa nhận có tham gia đánh Tr. Cơ quan điều tra cũng không có chứng cứ chứng minh ngoài T có ai khác tham gia đánh gây thương tích cho Tr, nên không có căn cứ cho rằng bản án sơ thẩm bỏ lọt tội phạm như yêu cầu của bị hại Phan Nhật Tr.

Xét kháng cáo của bị hại yêu cầu tăng mức hình phạt tù cho bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Vụ án này, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi gây thương tích cho bị hại Phan Nhật Tr là 16%. Phạm tội trong trường hợp có 02 tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn ăn hối cãi và bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả quy định tại điểm b, s khoản Điều 51 Bộ luật Hình sự; có hai tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, xét thấy sự việc xảy ra cũng có lỗi của bị hại. Bị cáo sau khi phạm tội có nộp khắc phục hậu quả số tiền gần đầy đủ so với thiệt hại, nên bản án sơ thẩm áp dụng Điều 54 xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và áp dụng mức hình phạt 01 năm 06 tháng tù cho bị cáo là tương xứng với hành vi, phù hợp với pháp luật. Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị hại, giữ nguyên mức hình phạt tù của bản án sơ thẩm.

. Xét kháng cáo của bị hại yêu cầu tăng mức bồi thường thiệt hại, Hội đồng xét xử thấy rằng: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị hại Phan Nhật Tr yêu cầu buộc bị cáo bồi thường 04 khoản thiệt hại gồm: chi phí thuốc men, viện phí điều trị; chi phí đi lại để điều trị; tiền mất thu nhập trong thời gian điều trị và sau khi ra viện; thiệt hại về tổn thất tinh thần với tổng số tiền 84.771.000 đồng. Bản án sơ thẩm đã chấp nhận đủ 02 khoản tiền như yêu cầu của bị hại là tiền thuốc men, viện phí và chi phí đi lại điều trị tổng số tiền là 6.871.000 đồng, nên Hội đồng xét xử không xét lại. Còn lại 02 khoản tiền bị hại cho rằng bị thiệt hại là tổn thất về tinh thần và mất thu nhập trong thời gian nằm viện và sau khi ra viện. 02 khoản tiền này, cấp sơ thẩm căn cứ vào tỷ lệ thương tích của bị hại là 16% để buộc bị cáo bồi thường 08 tháng lương cơ sở là 11.920.000 đồng và nghề nghiệp của bị hại không ổn định nên tính theo mức lao động bình quân mỗi ngày 250.000 đồng, trong thời gian 30 ngày là 7.500.000 đồng là có căn, phù hợp pháp luật. Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo yêu cầu tăng mức bồi thường của bị hại, giữ nguyên mức bồi thường của bản án sơ thẩm.

. Về trình bày quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về đơn kháng cáo, cũng như nội dung vụ án tại phiên toà: Hội đồng xét xử thống nhất với đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Chánh T phạm tội Cố ý gây thương tích; không chấp nhận tất cả các yêu cầu kháng cáo của bị hại Phan Nhật Tr, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

. Đối với các quyết định khác của bản án sơ thẩm do không bị kháng cáo, kháng nghị hoặc không liên đến kháng cáo, kháng nghị, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị hại Phan Nhật Tr không phải chịu, do được miễn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.

1. Không chấp nhận đơn kháng cáo của bị hại Phan Nhật Tr yêu cầu tăng hình phạt, tăng mức bồi thường thiệt hại và bỏ lọt tội phạm. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

2. Tuyên bố: Nguyễn Chánh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Chánh T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày bắt tạm giam 01/6/2021.

3. Áp dụng Điều 347 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tiếp tục tam giam bị cáo Nguyễn Chánh Tín 45 ngày để đảm bảo thi hành án. Thời hạn tạm giam tính từ ngày 07/4/2022.

4. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các điều 584, 590 Bộ luật dân sự.

Buộc bị cáo Nguyễn Chánh T bồi thường thiệt hại về sức khỏe trị giá bằng tổng số tiền 26.291.000đ (Hai mươi sáu triệu hai trăm chín mươi mốt nghìn đồng) cho bị hại Phan Nhật Tr. Bị cáo T được khấu trừ số tiền 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) đã nộp ngày 05/4/2021 tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang khi thi hành án.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

5. Án phí hình sự phúc thẩm: khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. khoản 3 Điều 22 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 và Danh mục mức án phí, lệ phí Toà án kèm theo.

Bị hại Phan Nhật Tr được miễn.

6. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 07/4/2022).

8. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ