- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị H về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” đối với bị đơn ông Châu Văn V.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÚI THÀNH TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:36/2022/HNGĐST Ngày: 15/9/2022 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÚI THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân Thùy
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Thƣ.
2. Ông Dƣơng Minh Ngọc.
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Huỳnh Lan Vi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Nghĩa - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 144/2022/TLST-HNGĐ ngày 29/6/2022 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/8/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2022/QĐST-HNGĐ ngày 26/8/2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị H, sinh năm: 1993, địa chỉ: Thôn Tr, xã X, huyện N, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
2. Bị đơn: Ông Chân Văn V, sinh năm: 1985, địa chỉ: Thôn Tr, xã X, huyện N, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại ơn kh i kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên ơn bà Huỳnh Thị Hoa trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông Châu Văn V tự nguyện tìm hiểu đến với nhau thành vợ chồng, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND xã Tịnh Châu, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi vào năm 2018.Vợ chồng số hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do quan điểm sống không hợp, ông V không lo làm ăn, vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn cãi vả. Ông V có quan hệ ngoại tình với người khác, có hành vi đánh đập bà H. Nay tình cảm vợ chồng đã hết, bà H làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn ông V.
Về con chung: Vợ chồng có một con chung tên Châu Bảo Ng, sinh năm: 2018. Nếu ly hôn bà H yêu cầu được tiếp tục nuôi bé Ng, không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung và cho mượn nợ: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Châu Văn V đã được tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa. Tuy nhiên ông V không có văn bản trình bày ý kiến của mình về yêu cầu của bà H cũng không có ý kiến phản tố, không nộp tài liệu chứng cứ gì khác cho Tòa, không đến tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, không tham gia phiên tòa. Do vậy, ông V không có lời trình bày tại hồ sơ cũng như tại phiên tòa.
Tại phiên toà Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà và của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử cho bà Huỳnh Thị H được ly hôn ông Châu Văn V. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Giao con chung cho bà Huỳnh Thị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, bà H không yêu cầu giải quyết nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung nên không đề cập giải quyết; về tài sản chung, nợ chung và cho mượn nợ chung: Không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam tham gia tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Huỳnh Thị H có đơn yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn với ông Châu Văn V, địa chỉ: Thôn Tr, xã X, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam. Do đó, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, xác định đây là vụ án ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.
Về thủ tục tố tụng: Ông V là bị đơn đã được Tòa án tiến hành tống đạt, niêm yết hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, giấy triệu tập tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng ông V vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do chính đáng, do vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông V là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông V tự nguyện tìm hiểu đến với nhau thành vợ chồng có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND xã Tịnh Châu, thành phố Quảng Ngãi vào năm 2018. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông V là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo bà H khai do vợ chồng bất đồng quan điểm, ông V không lo làm ăn xây dựng gia đình, có quan hệ không lành mạnh với người phụ nữ khác; vợ chồng thường xuyên cãi vả, bạo lực. Từ khi kết hôn đến nay, ông V thường xuyên đi vắng, thỉnh thoảng mới về nhà nhưng cũng không thể hiện trách nhiệm đối với gia đình con cái. Sau khi thụ lý, Tòa án đã triệu tập các đương sự đến nhằm hòa giải cho hai bên đoàn tụ, tuy nhiên cả hai lần mở phiên hòa giải ông V đều không có mặt theo giấy triệu tập nên không tiến hành hòa giải được, cũng thể hiện ông V không có thiện chí khắc phục mâu thuẫn, đoàn tụ gia đình. Tại phiên tòa bà H vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn. Xét thấy, mâu thuẫn giữa bà H và ông V đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận cho bà Huỳnh Thị H được ly hôn ông Châu Văn V là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung và cấp dƣỡng nuôi dƣỡng con chung:
Về con chung: Bà H và ông V có một con chung tên Châu Bảo Ng, sinh năm: 2018. Bà H yêu cầu được nuôi con với lý do từ khi sinh ra đến nay, cháu Ng ở với bà H, do bà H chăm sóc, ông V ít khi ở nhà nên không thể chăm con.
Hội đồng xét xử xét thấy: việc nuôi con phải phù hợp với điều kiện thực tế và khả năng nuôi dưỡng cũng như đảm bảo sự phát triển ổn định về thể chất và tinh thần cho đứa trẻ. Hiện nay cháu Ng đang ở với bà H; bà H có công việc và thu nhập ổn định. Cháu Ng còn nhỏ, là nữ rất cần sự chăm sóc của mẹ. Mặt khác, ông V cũng không có ý kiến gì về việc tranh chấp nuôi con của bà H. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho cháu Ng và căn cứ theo quy định của pháp luật nên xét giao con chung Châu Bảo Ng, sinh ngày 07/12/2018 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi trưởng thành là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.
Về cấp dƣỡng nuôi con chung: Bà H đủ điều kiện kinh tế, không yêu cầu cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung và cho mƣợn nợ chung: Bà H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét
Về án phí hôn nhân – đình sơ thẩm: Bà H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 273, Điều 278, Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án,
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị H về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” đối với bị đơn ông Châu Văn V.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị H được ly hôn với ông Châu Văn V.
2. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Giao con chung Châu Bảo Ng, sinh ngày 07/12/2018 cho bà Huỳnh Thị H trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi trưởng thành.
Ông Châu Văn V không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông Châu Văn V được quyền thăm nom và chăm sóc con chung, không ai được quyền cản trở ông Võ thực hiện quyền này. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3. Về tài sản chung, nợ chung và cho mượn nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Huỳnh Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn ồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà H đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn ồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011159 ngày 29/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyên kha ng ca o bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân huyện; - Chi cục THADS huyện; - TAND tỉnh Quảng Nam; - UBND xã Tịnh Sơn, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi; - Các ương sự; - Lưu hồ sơ, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Xuân Thùy |