vanban.org

Bản án 36/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H về việc ly hôn.

Về tình cảm: chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Phan Nguyên D. Về con chung: chị Nguyễn Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung Phan Thị Trà M sinh ngày 02/3/2022 kể từ tháng 8 năm 2022 đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi); anh Phan Nguyên D không phải cấp dưỡng nuôi con … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H về việc ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG NINH
Bản án số: 36/2022/HNGĐ-ST
Ngày 10-8-2022
“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU – TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phạm Ngọc Bình Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lương Xuân Sớm.

2. Ông Nguyễn Văn Bẩy.

- Thư ký phiên tòa: ông Hoàng Đức Trọng – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều tham gia phiên toà: bà Phạm Thị Thu Hường - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 27 tháng 7 năm 2022 và ngày 10 tháng 8 năm 2022, tại Phòng xử án, Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 214/2022/TLST- HNGĐ, ngày 19 tháng 6 năm 2022 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 33/2022/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị H, sinh năm 1996. Trú tại: Tổ 22, khu N, phường T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Phan Nguyên Duy, sinh năm 1990. Trú tại: Tổ 1, khu V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 06 tháng 6 năm 2022, nguyên đơn Nguyễn Thị H trình bày:

Chị và anh Phan Nguyên D tự nguyện kết hôn, có đăng ký tại Ủy ban nhân dân phường M thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh năm 2021. Sau khi kết hôn, anh chị về chung sống tại Tổ 1, khu V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình chung sống vợ chồng vợ chồng hạnh phúc đến cuối năm 2021 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung và thường xuyên cãi vã, chửi bới nhau. Kể từ tháng 3 năm 2022 đến nay vợ chồng đã sống ly thân, mỗi người ở một nơi. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng giữa hai người không còn, cuộc sống chung vợ chồng không còn hạnh phúc, chị làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị được ly hôn để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Quá trình chung sống anh chị có 01 con là Phan Thị Trà M, sinh ngày 02/3/2022. Sau khi ly hôn, chị đề nghị trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung; không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng.

Về tài sản chung: không có.

Về công nợ chung: không có.

Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Phan Nguyên D không thể hiện ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H; không đến phiên tòa để làm việc mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các tài liệu tố tụng theo quy định của pháp luật.

Tại biên bản xác minh tại địa phương ngày 17/6/2022 và tại gia đình ngày 08/8/2022, bà Nguyễn Thị T (trưởng khu V) và bà Lê Thị Q (mẹ đẻ của anh Phan Nguyễn D) cho biết:

Anh Phan Nguyên D và chị Nguyễn Thị H tự nguyện kết hôn có đăng ký tại Ủy ban nhân dân phường M thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh năm 2021. Sau khi kết hôn, anh chị về chung sống tại Tổ 1, khu V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình chung sống thường xuyên mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung và thường xuyên cãi vã, chửi bới nhau. Kể từ tháng 3 năm 2022 đến nay vợ chồng đã sống ly thân. Anh chị có 01 con chung là Phan Thị Trà M sinh ngày 02/3/2022. Khi ly thân, chị H đưa con về nhà bố mẹ đẻ ở U ở. Anh D hiện nay vẫn ở cùng nhà với bà và làm việc tại địa phương. Anh chị không có tài sản và không có khoản nợ chung. Nay chị H làm đơn khởi kiện xin ly hôn thì đề nghị tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định tại Điều 196, 203 của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử và thư ký tại phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Nguyễn Thị H về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa:

Về quan hệ tranh chấp: chị Nguyễn Thị H có đơn khởi kiện đề nghị được ly hôn với anh Phan Nguyên D. Đây là vụ án “Tranh chấp về hôn nhân gia đình” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a, khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải theo đúng trình tự và thủ tục của Bộ luật tố tụng dân sự quy định. Trong quá trình tống đạt các tài liệu, quyết định tố tụng của Tòa án cho các đương sự theo đúng trình tự thủ tục tố tụng. Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh Phan Nguyên D vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự.

Về tình cảm: chị Nguyễn Thị H và anh Phan Nguyên D kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đăng ký năm 2021 tại Ủy ban nhân dân M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình chung sống, vợ chồng hạnh phúc được một thời gian, cuối năm 2021 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung. Anh chị đã ly thân từ tháng 3 năm 2022 đến nay. Như vậy, thực tế cuộc hôn nhân của anh chị đã mâu thuẫn trầm trọng mà không thể hàn gắn được, mục đích chung sống không đạt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, yêu cầu của chị Nguyễn Thị H đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phan Nguyên D có căn cứ pháp luật, cần chấp nhận.

Về con chung: Quá trình chung sống anh chị có 01 con là Phan Thị Trà M, sinh ngày 02/3/2022 hiện đang ở cùng chị Nguyễn Thị H. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Nguyễn Thị H luôn thể hiện nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Phan Thị Trà M. Mặt khác, cháu Phan Thị Trà M mới được hơn 5 tháng tuổi. Căn cứ vào khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình thì con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi. Hội đồng xét xử thấy nguyện vọng của chị Nguyễn Thị H có căn cứ pháp luật nên cần chấp nhận.

Về tài sản chung và các khoản nợ: không có nên không đề cập giải quyết

Về án phí: chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 57; khoản 1, 2 Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H về việc ly hôn.

1. Về tình cảm: chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Phan Nguyên D.

2. Về con chung: chị Nguyễn Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung Phan Thị Trà M sinh ngày 02/3/2022 kể từ tháng 8 năm 2022 đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi); anh Phan Nguyên D không phải cấp dưỡng nuôi con chung; anh Phan Nguyên D có quyền thăm nom con chung theo quy định của pháp luật. Chị Nguyễn Thị H cùng những thành viên gia đình không được cản trở anh Phan Nguyên D trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (chị Nguyễn Thị H đã nộp theo biên lai thu tiền số 0009521, ngày 09/6/2022 của chi cục thi hành án dân sự thị xã Đông Triều);

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ