vanban.org

Bản án 36/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của ông Dương Đình B đối với bà Lê Thị Đ

Tuyên xử: ông Dương Đình B, sinh năm 1970 được ly hôn với Bà Lê Thị Đ, sinh năm 1972. Giấy chứng nhận kết hôn số 155 của UBND phường AHĐ, quận S, TP Đà Nẵng cấp ngày 14.11.2003 không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ông Dương Đình B xin ly hôn với bà Lê Thị Đ"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của ông Dương Đình B đối với bà Lê Thị Đ
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN ND Q.SƠN TRÀ
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2022/HNGĐ-ST
Ngày 12.9.2022
V/v tranh chấp: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, TP ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thanh Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Lệ Thủy và ông Nguyễn Văn Đích

- Thư ký phiên toà: Ông Lã Phú Huy - Thư ký Toà án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 115/2022/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 7năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 115/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 18.8.2022, quyết định hoãn phiên tòa số 102/2022/QĐST-HN ngày 06.9.2022 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ông Dương Đình B, sinh năm 1970. Có mặt

Trú tại: K 34/2 Lê Hữu Trác, phường AHĐ, quận S, TP Đà Nẵng

* Bị đơn: Bà Lê Thị Đ, sinh năm 1972. Vắng mặt

Trú tại: Số 58 Hoàng Quốc Việt, phường NHĐ, quận S, TP Đà Nẵng

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Theo đơn xin ly hôn, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà hôm nay nguyên đơn ông Dƣơng Đình B trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: tôi và bà Lê Thị Đ kết hôn vào năm 2003 có đăng ký kết hôn tại UBND phường AHĐ, quận S, TP. Đà Nẵng. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn, chúng tôi chung sống tại phường AHĐ, quận S, TP. Đà Nẵng.

Năm 2012 thì chúng tôi phát sinh mâu thuẫn và thường xuyên cãi nhau. không tôn trọng nhau, không có tiếng nói chung, đôi lúc xảy ra xung đột. Ngoài ra bà Đ cũng thừa nhận con chung không phải là con của tôi nên từ đó chúng tôi đã không còn chung sống với nhau. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên tôi đề nghị Toà án giải quyết cho tôi được ly hôn với bà Lê Thị Đ.

- Về quan hệ con chung: Ông Dương Đình B xác định ông và Bà Lê Thị Đ có 01 con chung Dương Đình D, sinh ngày 31.3.2003, mặc dù đã có kết quả xét nghiệm ADN nhưng tôi vẫn xem cháu là con chung, nay con chung đã đủ tuổi trưởng thành nên không đề cập đến

- Về tài sản chung và nợ chung: không có.

* Bị đơn là Bà Lê Thị Đ không đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông Bo thụ lý vụ án và các thông Bo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà:

- Về thủ tục tố tụng: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử cũng như việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn ông Dương Đình B kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm hội đồng xét xử nghị án; bị đơn Bà Lê Thị Đ không chấp hành nghiêm pháp luật, vắng mặt tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.

-Về nội dung vụ án: xét thấy về quan hệ hôn nhân mâu thuẫn của ông Dương Đình B và Bà Lê Thị Đ đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn vợ chồng đã được UBND phường An Hải Đông xác nhận nên căn cứ vào Điều 51,56 Luật HNGĐ đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Dương Đình B.

Về con chung có 01 con chung là Dương Đình D, sinh ngày 31.3.2003. Con chung đã đủ tuổi trưởng thành nên không đề cập đến.

- Về tài sản chung, nợ chung: Ông B xác nhận không có nên không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

.Về thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Tranh chấp ly hôn ông Dương Đình B và bà Lê Thị Đ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải: Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông Bo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho đương sự vắng mặt theo quy định tại Điều 208, 209, 210, 211 của BLTTDS. Tại phiên tòa hôm nay, Nguyên đơn không xuất trình thêm chứng cứ mới.

Tại phiên toà lần thứ nhất ngày 06.9.2022 và cũng như phiên toà hôm nay Toà án đã triệu tập, niêm yết công khai Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên toà đối với bị đơn bà Lê Thị Đ, nhưng bà Lê Thị Đ vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án xét xử vắng mặt bà Lê Thị Đ.

.Về nội dung tranh chấp: Xét yêu cầu khởi kiện của ông Dương Đình B và bà Lê Thị Đ thì thấy:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông Dương Đình B và bà Lê Thị Đ kết hôn năm vào năm 2003 có đăng ký kết hôn tại phường AHĐ, quận S, TP. Đà Nẵng. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn, chúng tôi chung sống tại phường AHĐ, quận S, TP. Đà Nẵng.

Theo ông Dương Đình B trình bày trong thời gian chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẩn như thường xuyên cãi nhau. không tôn trọng nhau, không có tiếng nói chung, đôi lúc xảy ra xung đột. Ngoài ra bà Đ cũng thừa nhận con chung không phải là con của ông B nên từ đó chúng tôi đã không còn chung sống với nhau. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên ông B đề nghị Toà án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Đ

Trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa hôm nay bà Lê Thị Đ không đến Tòa án để trình bày ý kiến và tham gia tố tụng điều này thể hiện bà Đ không có mong muốn đoàn tụ, bỏ mặc cho mâu thuẩn gia đình ngày càng trầm trọng, thể hiện thái độ không tôn trọng pháp luật nên phải chịu hậu quả pháp lý về việc vắng mặt này.

Theo xác minh tại UBND phường AHĐ, quận S, Tp Đà Nẵng thì cuộc sống vợ chồng giữa ông B và bà Đ mâu thuẩn như thế nào thì địa phương không rõ nhưng nhiều năm nay hai người đã không còn chung sống với nhau. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa ông B và bà Đ đã không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, việc ông B yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 Luật HNGĐ năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.2] Về quan hệ con chung: Ông Dương Đình B khai nhận ông và bà Lê Thị Đ có 01 con chung là Dương Đình D, sinh ngày 31.3.2003. Con chung đã đủ tuổi trưởng thành nên không đề cập đến nên HĐXX không xem xét

[2.3] Về i n chun , nợ chung: ông Dương Đình B xác nhận không có nên HĐXX không xem xét.

Nếu sau này ông B và bà Đ có tranh chấp về vấn đề tài sản chung và nợ chung thì có quyền khởi kiện bằng một vụ kiện dân sự khác.

[2.4] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì án phí HNGĐ sơ thẩm là 300.000 đồng ông Dương Đình B phải nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Các Điều 51, 53, 54,56,58 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1.Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của ông Dương Đình B đối với bà Lê Thị Đ

Tuyên xử: ông Dương Đình B, sinh năm 1970 được ly hôn với Bà Lê Thị Đ, sinh năm 1972.

Giấy chứng nhận kết hôn số 155 của UBND phường AHĐ, quận S, TP Đà Nẵng cấp ngày 14.11.2003 không còn giá trị pháp lý.

2. Về con chung: có 01 con chung là Dương Đình D, sinh ngày 31.3.2003. Con chung đã đủ tuổi nên không xem xét.

3. Về tài sản chung, về nợ chung: không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Án phí HNGĐ sơ thẩm 300.000 đồng ông Dương Đình B phải nộp, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0006312 ngày 22.7.2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Sơn Trà, Tp Đà Nẵng. Như vậy, ông B đã nộp đủ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ