vanban.org

Bản án 36/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: chị Huỳnh Thị Quí T và anh Đinh Công T được ly hôn.

Về con chung: chị Huỳnh Thị Quí T và anh Đinh Công T không có con chung, HĐXX không xem xét. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Huỳnh Thị Quí T không yêu cầu, HĐXX không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị T xin ly hôn anh T"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: chị Huỳnh Thị Quí T và anh Đinh Công T được ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TUY PHƯỚC
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 17/02/2023
V/v Ly hôn giữa chị T và anh T

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHƯỚC, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thư

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Minh Thâm

Ông Tạ Xuân Chiến

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Mai - Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hoài - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 295/2022/TLST–HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2023/QĐXX-ST ngày 03 tháng 01 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Quí T, sinh năm: 1989; cư trú tại: Thôn LL, xã PH, huyện TP, tỉnh BĐ.

2 Bị đơn: Anh Đinh Công T, sinh năm: 1988; cư trú tại: Thôn MĐ, thị

trấn TP, huyện huyện TP, tỉnh BĐ.

(Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 13/9/2022 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Huỳnh Thị Quí T trình bày:

Chị và anh T tự nguyện tìm hiểu và đi đến hôn nhân năm 2012, đăng ký kết hôn ngày 20/11/2012 tại UBND thị trấn TP, huyện huyện TP, tỉnh BĐ. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống không hạnh phúc. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, anh T không lo làm ăn mà thường tụ tập uống bia rượu cùng bạn bè, hay gây chuyện đánh nhau với người khác. Chị và gia đình đã nhiều lần khuyên nhưng anh T không nghe, giữa vợ chồng thường xuyên kình cãi không tìm được tiếng nói chung. Thời gian qua gia đình hai bên nhiều lần động viên hòa giải để vợ chồng hàn gắn hạnh phúc nhưng không có kết quả. Từ tháng 6/2018 đến nay mâu thuẫn giữa vợ chồng trở nên trầm trọng, chị và anh T đã sống ly thân. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, hai bên không thể tiếp tục chung sống với nhau nên chị xin được ly hôn với anh T. Hiện nay sức khỏe của chị bình thường, không mang thai.

Về con chung: vợ chồng không có con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: chị không yêu cầu tòa giải quyết.

* Bị đơn anh Đinh Công T: đã được Toà triệu tập hợp lệ đến Toà để khai báo, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hoà giải và tham gia phiên Toà nhưng anh T đều cố tình vắng mặt.

+ Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật về tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

- Về tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước tỉnh Bình Định thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền, thời hiệu, quan hệ tranh chấp và xác định đúng tư cách pháp lý những người tham gia tố tụng. Tại phiên tòa HĐXX, thư ký và những người tham gia tố tụng chấp hành đúng theo luật tố tụng Dân sự. Riêng bị đơn không thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình nên phải chịu hậu quả pháp lý về việc không tuân thủ quy định của pháp luật.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị Huỳnh Thị Quí T.

- Về án phí: Đương sự phải chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử xét thấy:

Về tố tụng: Bị đơn anh Đinh Công T có địa chỉ cư trú tại Thôn MĐ,

thị trấn TP, huyện huyện TP, tỉnh BĐ. Do đó, căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.

Chị Huỳnh Thị Quí T có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Đinh Công T là bị đơn trong vụ án, đã được Tòa triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị T, anh T.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh Thị Quí T và anh Đinh Công T đi đến hôn nhân do tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn TP, huyện TP, tỉnh BĐ nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Sau khi kết hôn cuộc sống chung giữa vợ chồng anh chị không hạnh phúc. Theo chị T nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, anh T không lo làm ăn xây dựng gia đình mà thường tụ tập uống bia rượu cùng bạn bè rồi gây chuyện đánh nhau với người khác, vợ chồng thường xuyên xảy ra kình cãi. Hai bên gia đình đã nhiều lần động viên hòa giải để vợ chồng hàn gắn hạnh phúc nhưng không có kết quả. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 6/2018 cho đến nay, không còn quan tâm và không có trách nhiệm với nhau. Quá trình giải quyết vụ án anh T cố tình vắng mặt không đến Tòa. Ngày 29/11/2022 Tòa đã kết hợp với chính quyền địa phương đến nhà anh T để làm việc lấy lời khai nhưng anh T không hợp tác, từ chối khai báo, vì vậy Tòa đã lập biên bản lấy lời khai không được để làm bằng. Ngày 18/01/2023 chị T có đơn xin Tòa xét xử vắng mặt. Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị T và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 56 luật hôn nhân và gia đình, HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T để giải phóng cho đôi bên.

Về quan hệ con chung: Chị T và anh T không có con chung nên HĐXX không xem xét.

Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Chị T không yêu cầu, HĐXX không xem xét.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14, chị T phải nộp 300.000đ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định phát biểu quan điểm giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: chị Huỳnh Thị Quí T và anh Đinh Công T được ly hôn.

2. Về con chung: chị Huỳnh Thị Quí T và anh Đinh Công T không có con chung, HĐXX không xem xét.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Huỳnh Thị Quí T không yêu cầu, HĐXX không xem xét.

4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Huỳnh Thị Quí T phải nộp 300.000đồng, nhưng được khấu trừ vào 300.000đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0006376 ngày 11/10/2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Chị T đã nộp đủ án phí HNGĐST.

5. Về quyền kháng cáo: Các bên đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại UBND nơi cư trú.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ