- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Doãn Thị Ng ly hôn với anh Phạm Ngọc H"
- Tòa quyết gì? 81, 82, 83, 84 và Điều 131 của Luật Hôn nhân Gia đình năm 2014;
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 36/2022/HNGĐ-ST Ngày: 10-5-2022 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ - TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Văn Phi
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Công Gia và ông Lê Đình Khôi
Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Chuyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham
gia phiên tòa: Bà Lại Thị Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 5 năm 2022, tại Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng
Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 76/2021/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 3 năm 2021, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2022/QĐST-HNGĐ ngày 18/4/2022, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Doãn Thị Ng, sinh năm: 1987
Địa chỉ: Tổ 1, ấp P, xã T, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai
Bị đơn: Anh Phạm Ngọc H, sinh năm 1978
Địa chỉ: Tổ 1, ấp P, xã T, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai
(Chị Ng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh H vắng mặt không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 28/01/2021, lời khai trong quá trình chuẩn bị xét
xử nguyên đơn chị Doãn Thị Ng trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phạm Ngọc H tự nguyện tìm hiểu và tiến
đến hôn nhân năm 2005, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phú Trung, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai và được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo luật định.
Đời sống hôn nhân của vợ chồng chị đầm ấm, hạnh phúc đến năm 2019 thì
bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh H ham chơi, không chăm lo làm ăn, chăm sóc gia đình, chị đã nhiều lần khuyên can nhưng anh H không thay đổi tính tình. Hiện nay chị và anh H đã không còn sống chung với nhau, vợ chồng không ai quan tâm đến ai. Nay tình cảm vợ chồng không còn, chị giữ nguyên yêu cầu ly hôn với anh Phạm Ngọc H.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Phạm Ngọc Quỳnh Nh, sinh
ngày 17-02-2006; Phạm Minh K, sinh ngày 29-9-2008. Khi ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng các cháu Như, Kiệt, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị Ng khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết;
về nợ chung: Theo chị Ng, vợ chồng không có nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Phạm Ngọc H mặc dù được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản
tố tụng nhưng trong quá trình chuẩn bị xét xử không có ý kiến, đồng thời vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai.
Để chứng minh cho yêu cầu, ý kiến của mình, nguyên đơn đã nộp kèm theo
đơn khởi kiện những tài liệu chứng cứ sau: Chứng minh nhân dân của chị Ng, sổ hộ khẩu gia đình (bản sao); giấy chứng nhận kết hôn (bản sao); giấy khai sinh của 02 con chung (bản sao); lời khai của nguyên đơn tại bản tự khai; Đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp Tòa án đã tiến hành sao gửi hợp lệ cho bị đơn.
Để giải quyết vụ án, theo yêu cầu của nguyên đơn, Tòa án đã tiến hành thu
thập những tài liệu, chứng cứ sau: Đơn nguyện vọng và ý kiến của các con chung; Biên bản xác minh về tình trạng hôn nhân của các đương sự.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến như sau:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký
phiên tòa và nguyên đơn đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Bị đơn chưa tuân thủ đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận cho chị Ng ly hôn với anh Phạm
Ngọc H; về con chung: Đề nghị giao hai cháu Phạm Ngọc Quỳnh Nh, sinh ngày 17-02-2006; Phạm Minh K, sinh ngày 29-9-2008 cho chị Ng nuôi dưỡng anh H không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Ng không yêu cầu.
Về tài sản chung: Chị Ng không yêu cầu Tòa án giải quyết, về nợ chung:
Chị Ng khai không có, nên không xem xét, dành quyền khởi kiện về tài sản chung, nợ chung cho anh H bằng vụ án khác khi có yêu cầu. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào
kết quả tranh tụng tại phiên tòa:
Về thủ tục tố tụng: Chị Doãn Thị Ng khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh
Phạm Ngọc H, tranh chấp về nuôi hai con chung Phạm Ngọc Quỳnh Nh, sinh ngày 17-02-2006; Phạm Minh K, sinh ngày 29-9-2008. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp cần giải quyết trong vụ án này được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Anh Phạm Ngọc H là bị đơn có nơi cư trú tại: Ấp Phú Thạch, xã Phú Trung,
huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng
mặt; bị đơn anh Phạm Ngọc H, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Ng, anh H được xác lập trên
cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phú Trung vào ngày 22-3-2005, do đó đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật ghi nhận và bảo vệ.
Đời sống hôn nhân của chị Ng, anh H đầm ấm, hạnh phúc đến năm 2019
thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh H không chăm lo làm ăn, không làm tròn trách nhiệm của người chồng, người cha, từ đó vợ chồng mới xảy ra cãi vã, xung đột.
Hiện nay chị Ng, anh H đã không còn sống chung với nhau, vợ chồng
không ai quan tâm đến ai, không còn thực hiện quyền và nghĩa vụ chung của vợ chồng.
Đối với bị đơn anh Phạm Ngọc H, qua xác minh tại địa phương nơi bị
đơn cư trú, xác định anh H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa phương, vẫn sinh sống và thường xuyên có mặt tại địa chỉ như nguyên đơn cung cấp nhưng cố tình né tránh. Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập, giấy báo và các văn bản tố tụng khác (Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử) cho bị đơn nhưng bị đơn vẫn không đến Tòa án làm việc, không cung cấp văn bản trình bày ý kiến, không cung cấp tài liệu, chứng cứ, tự từ bỏ quyền của đương sự. Mặt khác, điều này cũng thể hiện anh H không có thiện chí để hòa giải đoàn tụ gia đình với chị Ng.
Từ những lý do nêu trên, xác định được chị Ng, anh H trong quá trình
sống chung đã không còn thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình; làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình thì yêu cầu ly hôn của chị Ng đối với anh H là có cơ sở chấp nhận.
Về con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Ng, anh H có
02 con chung là Phạm Ngọc Quỳnh Nh, sinh ngày 17-02-2006; Phạm Minh K, sinh ngày 29-9-2008. Khi ly hôn, chị Ng có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng hai cháu Như, Kiệt không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy từ khi vợ chồng chị Ng không còn sống chung thì các con do
chị Ng chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; các cháu Như, Kiệt có nguyện vọng được sống chung với chị Ng. Để không xáo trộn đời sống của các chau, do đó giao các cháu Như, Kiệt cho chị Ng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục điều này cũng phù hợp với nguyện vọng của các cháu, tạm thời anh H không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Ng không có yêu cầu.
Về tài sản chung: Chị Ng không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không
xem xét; về nợ chung: Chị Ng khai không có, nên không xem xét. Đối với anh H nếu có yêu cầu chia tài sản chung, nợ chung với chị Ng thì có quyền khởi kiện bằng vụ án khác.
Về án phí: Chị Ng là nguyên đơn trong vụ án ly hôn, do đó chị Ng phải
chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về đường lối giải quyết vụ án
là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39;
khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 235 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 85, 91, 92, 93 luật hôn nhân gia đình năm 2000; Các điều 19, 51, 56,
81, 82, 83, 84 và Điều 131 của Luật Hôn nhân Gia đình năm 2014;
- Điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Doãn Thị Ng về việc “Ly hôn, tranh
chấp về nuôi con chung” đối với anh Phạm Ngọc H.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Doãn Thị Ng được ly hôn anh Phạm Ngọc H.
2. Về nuôi con chung: Giao 02 (Hai) con chung là Phạm Ngọc Quỳnh Nh,
sinh ngày 17-02-2006; Phạm Minh K, sinh ngày 29-9-2008 cho chị Ng trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; anh H không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Ng không yêu cầu.
Anh H có quyền qua lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được gây
trở ngại. Vì lợi ích của con chung các bên đương sự được quyền xin thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung: Chị Ng khai không có, không yêu cầu Tòa án giải
quyết, nên không xem xét; về nợ chung, chị Ng khai không có, nên không xem xét, giải quyết.
4. Về án phí: Chị Doãn Thị Ng phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án
phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, khấu trừ vào số tiền chị Ng đã nộp tạm ứng theo biên lai thu số 0003990 ngày 26/02/2021 tại Chi cục thi hành án Dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai chuyển thành án phí.
Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
5. Về quyền kháng cáo: Chị Ng, anh H có quyền kháng cáo trong thời hạn
15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Tân Phú; - Chi cục THA huyện Tân Phú; - Các đương sự (để thi hành); - UBND xã Phú Trung (để ghi vào sổ hộ tịch ĐK ngày 22/5/2005) - Lưu hồ sơ, án văn. CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Văn Phi |