vanban.org

Bản án 36/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Trần Văn C và chị Nguyễn Thị D.

2/ Về án phí: Anh Trần Văn C phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2021/0004569 ngày 18 tháng 04 năm 2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện K, tỉnh Ninh Bình. Án xử công kh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Văn C - Nguyễn Thị D"
  • Tòa quyết gì? 1/ Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Trần Văn C và chị Nguyễn Thị D.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN K
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2022/HNGĐ - ST
Ngày: 18/08/2022
Về việc: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán: - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Khanh.

- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Nghi.

Bà Trần Thị Lệ Dung.

- Thƣ ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hà, là thư ký Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Doan – Kiểm sát viên.

Trong ngày 18 tháng 08 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 83/2022/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 04 năm 2022 về việc “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 12 tháng 07 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 25/2022/QĐST- HNGĐ ngày 28 tháng 07 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Trần Văn C – sinh năm 1983.

Nơi ĐKHKTT và trú tại: xóm 3, xã Đ, huyện K, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị D – sinh năm 1993.

Nơi ĐKHKTT và trú tại: xóm 1, xã Y, huyện K, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.

Anh C có đơn xin xét xử vắng mặt, chị D vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và các văn bản khác có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn là anh Trần Văn C trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị D sau thời gian tự do tìm hiểu đã tự nguyện kết hôn với nhau ngày 24 tháng 09 năm 2019 tại UBND xã Y, huyện K, tỉnh Ninh Bình. Sau khi kết hôn anh chị về chung sống được khoảng một tuần thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn do bất đồng quan điểm lối sống nên đã xảy ra xô xát cãi vã nhau. Mặc dù được hai bên gia đình phân tích hòa giải nhưng không có kết quả. Tháng 10 năm 2019 chị D đã tự ý bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở xóm 1, xã Y để làm ăn sinh sống. Từ đó đến nay anh chị sống ly thân mỗi người một nơi và không quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh chị không có khả năng về đoàn tụ nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh ly hôn với chị D.

Về con chung: Anh và chị D không có con chung nên anh không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Vê tài sản chung: Anh và chị D không có tài sản chung nên anh không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Bị đơn trong vụ án là chị Nguyễn Thị D hiện đang cư trú ở cùng nhà mẹ đẻ là bà Đinh Thị N tại xóm 1, xã Y, huyện K, tỉnh Ninh Bình. Tòa án nhân dân huyện K đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và giao các tài liệu chứng cứ theo đề nghị của nguyên đơn, tống đạt các văn bản tố tụng như thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho chị D thông qua mẹ đẻ là bà Đinh Thị N. Tuy nhiên, chị D không có mặt làm việc tại Tòa án và cũng không có bản ý kiến của mình về việc giải quyết vụ án đồng thời không cung cấp các tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

1. Về thủ tu ̣c tố tu ̣ng: Trong quá trình giải quyết vu ̣ án và ta ̣i phiên tòa sơ thẩm Thẩm phán, Hội đồng xét xử , Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tu ̣ng dân sự. Nguyên đơn, chấp hành và thực hiện đúng các quyền và nghĩa vu ̣ của đương sự quy định ta ̣i Bộ luậ t Tố tu ̣ng dân sự . Bị đơn không chấp hành và thực hiện các quyền và nghĩa vu ̣ của đương sự quy định ta ̣i Bộ luật Tố tụng dân sự

2. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 144 khoản 4 Điều 147 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yê u cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Trần Văn C và chị Nguyễn Thị D được ly hôn

- Án phí: Anh Trần Văn C nộp án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Anh Trần Văn C có đơn khởi kiện về việc “Ly hôn” với chị Nguyễn Thị D, hiện chị D có nơi cư trú tại: Xóm 1, xã Y, huyện K, tỉnh Ninh Bình nên Tòa án nhân dân huyện K thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa vắng mặt nguyên đơn là anh Trần Văn C, anh C có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn là chị Nguyễn Thị D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt không có lý do. Do vậy để đảm bảo quyền lợi của các đương sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Văn C và chị Nguyễn Thị D có đăng ký kết hôn ngày 24 tháng 09 năm 2019 tại UBND xã Y, huyện K, tỉnh Ninh Bình. Như vậy quan hệ hôn nhân giữa anh C và chị D là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc cùng nhau được một tuần thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp. Mặc dù được hai bên gia đình phân tích hòa giải nhưng anh chị đã quyết định không về chung sống với nhau dưới một mái nhà, mặt khác việc hai anh chị không có con chung nên cũng dẫn đến việc vợ chồng không muốn hàn gắn để xây dựng hạnh phúc gia đình. Anh C đề nghị được ly hôn chị D. Về phía chị D mặc dù đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án nhưng chị D không có bản tự khai, không có văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, có thái độ bỏ mặc, không quan tâm, không có biện pháp khắc phục mâu thuẫn vợ chồng. Điều đó thể hiện chị D không thiện trí trong việc giải quyết mâu thuẫn vợ chồng cũng như không có biện pháp gì để vợ chồng hàn gắn tình cảm để về đoàn tụ.

Căn cứ vào biên bản xác minh tại UBND xã Y xác định anh C và chị D có Đăng ký kết hôn năm 2019 tại UBND xã Y, sau khi kết hôn anh chị về chung sống cùng gia đình anh C ở Đ được khoảng 1 tháng sau đó chị D về nhà bố mẹ đẻ của chị D ở Y để làm ăn, sinh sống. Từ cuối năm 2019 chị D không về chung sống cùng anh C nữa. Nguyên nhân do đâu anh chị mâu thuẫn và sống ly thân thì địa phương không nắm được vì không nhận được đơn thư hay báo cáo gì từ phía gia đình anh C và chị D. Nay anh C có đơn khởi kiện xin ly hôn chị D quan điểm của UBND xã là đề nghị Tòa án căn cứ vào nguyện vọng của các bên để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Từ những tài liệu, chứng cứ nêu trên Hội đồng xét xử nhận thấy anh C và chị D có cuộc sống chung một thời gian ngắn đã phát sinh mâu thuẫn và cả hai đều không có biện pháp để hàn gắn hôn nhân, vợ chồng không có con chung. Quan hệ hôn nhân của hai anh chị chỉ tồn tại trên danh nghĩa. Từ năm 2019 cho đến nay anh chị sống ly thân mỗi người một nơi và ai cũng có cuộc sống riêng đồng thời không quan tâm đến nhau nữa. Mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn

Về con chung: Anh C và chị D không có con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Anh C và chị D không có tài sản chung, khi ly hôn anh C không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Do vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[4] Về án phí: Căn cứ Điều 144. Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì anh Trần Văn C phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 144; khoản 4 Điều 147; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1/ Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Trần Văn C và chị Nguyễn Thị D.

2/ Về án phí: Anh Trần Văn C phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2021/0004569 ngày 18 tháng 04 năm 2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện K, tỉnh Ninh Bình.

Án xử công khai sơ thẩm nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ