vanban.org

Bản án 36/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị Quỳnh N được ly hôn anh Thái Bá P

Về con chung: Giao con chung Thái Thị Linh S, sinh ngày 04/10/2019 cho chị Nguyễn Thị Quỳnh N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với anh Thái Bá P. Anh Thái Bá P có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Người … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị Quỳnh N được ly hôn anh Thái Bá P
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DIỄN CHÂU
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 06/9/2022
Về việc: “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Đức Thúy

Các Hội thẩm nhân dân: bà Đoàn Thị Loan và ông Nguyễn Văn Dũng

Thư ký ghi biên bản phiên toà: bà Cao Thị Vân - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vinh - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Diễn Châu xét xử sơ thẩm, công khai vụ án dân sự, thụ lý số: 03/2022/TLST- HNGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2022 về: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 125/2022/QĐST - HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 27/2022/QĐ-DS ngày 17/8/2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Quỳnh N, sinh năm 2000

Nơi ĐKHKTT: xóm Quyết T, xã Diễn B, huyện D, tỉnh Nghệ An

Nơi ở hiện nay: khối 1, thị trấn Diễn Cu, huyện D, tỉnh Nghệ An (có mặt)

- Bị đơn: Anh Thái Bá P, sinh năm 1999

Trú tại: xóm Quyết T, xã Diễn B, huyện D, tỉnh Nghệ An (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện đề ngày 21 tháng 12 năm 2021, được bổ sung tại bản tự khai ngày 24 tháng 03 năm 2022, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Quỳnh N trình bày: chị và anh Thái Bá P kết hôn với nhau vào ngày 28 tháng 10 năm 2019 , hôn nhân trên cơ sở có tìm hiểu, hoàn toàn tự nguyện và không bị ai ép buộc, có đăng kí kết hôn tại UBND xã Diễn Bích, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống với nhau bình thường, hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng hay cãi vã nhau, anh P đánh đập chị, bố mẹ chồng bênh con trai. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị quyết định làm thủ tục đề nghị Toà án nhân dân huyện Diễn Châu giải quyết cho chị được ly hôn anh Thái Bá P

Về con chung: Vợ chồng có một con chung Thái Thị Linh S, sinh ngày

04/10/2019. Ly hôn chị N có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung cho đến khi trưởng thành; tại đơn khởi kiện chị N yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 03 triệu đồng nhưng tại bản tự khai đề ngày 24/3/2022, chị N rút yêu cầu cấp dưỡng đối với anh P.

Tài sản chung và nợ: Chị Nguyễn Thị Quỳnh N không yêu cầu Toà án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Toà án nhân dân huyện Diễn Châu đã tiến hành tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng cho anh Thái Bá P nhưng anh P không đến Tòa án để làm việc. Theo xác minh tại xã Diễn Bích và tại các Biên bản niêm yết thì anh Thái Bá P có đăng kí hộ khẩu tại xã Diễn Bích, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, anh P hiện có mặt và sinh sống tại địa phương nhưng không đến Tòa án tham gia các phiên làm việc. Do đó, tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng khác đối với anh Thái Bá P và tống đạt cho thân nhân (mẹ đẻ anh P bà Nguyễn Thị Lý) anh P theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự và được cam kết sẽ thông báo nội dung các văn bản cho anh Thái Bá P

Phát biểu ý kiến tại phiên tòa, Kiểm sát viên đánh giá trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán và hội đồng xét xử đã tiến hành đúng, đầy đủ theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự; Tòa án mở phiên tòa đúng thời hạn chuẩn bị xét xử. Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Bị đơn anh Thái Bá P đã được Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn cố tình vắng mặt; Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Quỳnh N có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải và xét xử vụ án nên Tòa án đưa vụ án xét xử vắng mặt đối với bị đơn là đúng quy định tại điểm b khoản 2 điều 227, khoản 1 điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về đường lối giải quyết vụ án đề nghị Toà án áp dụng các điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, giải quyết cho chị Nguyễn Thị Quỳnh N được ly hôn anh Thái Bá P; về con chung: Thái Thị Linh S, sinh ngày 04/10/2019 theo nguyện vọng của chị N muốn được tiếp tục nuôi con, hơn nữa cháu hiện nay dưới 36 tháng tuổi nên cần giao con cho mẹ đẻ là chị Nguyễn Thị Quỳnh N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi trưởng thành; việc cấp dưỡng do chị N không yêu cầu nên không xem xét; Về tài sản chung không yêu cầu giải quyết; án phí: chị Nguyễn Thị Quỳnh N phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thủ tục tố tụng:

Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 điều 28 BLTTDS thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án. Bị đơn anh Thái Bá P có đăng ký hộ khẩu tại xã Diễn Bích, huyện Diễn Châu nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 35 và điểm a khoản 1 điều 39 BLTTDS. Sau khi thụ lý, Tòa án đã tiến hành các thủ tục niêm yết, xác minh tại nơi đăng kí hộ khẩu thường trú đối với anh Thái Bá P và tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Chị Như và gia đình cũng đã thông báo đến anh P toàn bộ nội dung khởi kiện, anh P biết rõ nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do; nguyên đơn chị Nguyễn Thị Quỳnh N có đơn đề nghị Tòa án xét xử vụ án, không tiến hành hòa giải. Do đó căn cứ vào các điều 70, điều 207, điểm b khoản 2 điều 227, khoản 1, 3 điều 228, điều 238 BLTTDS 2015; điều 5 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao để giải quyết và xét xử vắng mặt anh Thái Bá P.

. Xét về quan hệ hôn nhân thấy rằng: Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Quỳnh N và anh Thái Bá P là hoàn toàn hợp pháp, việc đăng ký kết hôn là hoàn toàn tự nguyện. Sau một thời gian ngắn chung sống hạnh phúc giữa chị Như và anh P đã xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng nảy sinh các xung đột, hay cãi vã và anh P có hành vi đánh đập chị N. Quá trình làm việc tại Tòa án, chị N xác định không còn tình cảm gì với anh Phúc nữa, không thể sống chung với nhau nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh P, chị cũng đã có đơn trình bày về tình trạng hôn nhân và được Hội liên hiệp phụ nữ xã Diễn Bích xác nhận. Riêng anh P, sau khi được thông báo toàn bộ nội dung khởi kiện của chị N về việc ly hôn nhưng không có bất cứ văn bản nào phản hồi về cho tòa án nêu rõ ý kiến. Điều đó chứng tỏ rằng anh P không có động thái tích cực để hòa giải và đoàn tụ vợ chồng với chị N, mối quan hệ giữa chị N và anh P đã thực sự rạn nứt, mục đích hôn nhân không đạt được, bởi vậy cần áp dụng khoản 1 điều 51, khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết cho chị Nguyễn Thị Quỳnh N được ly hôn với anh Thái Bá P.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Quỳnh N và anh Thái Bá P có 01 con chung Thái Thị Linh S, sinh ngày 04/10/2019 hiện nay cháu được 35 tháng 02 ngày tuổi; chị Như có địa chỉ cư trú rõ ràng, có công việc và thu nhập ổn định đủ các điều kiện cơ sở vật chất để trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung, mặt khác, cháu San hiện nay đang dưới 36 tháng tuổi nên cần áp dụng các điều 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình giao con chung cho chị Nguyễn Thị Quỳnh N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của chị N và phù hợp với thực tế. Do chị Nguyễn Thị Quỳnh N không yêu cầu giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con nên tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Thái Bá P.

Về tài sản chung: chị Nguyễn Thị Quỳnh N không yêu cầu tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.

Án phí: Chị Nguyễn Thị Quỳnh N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, các điều 35, 39, 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

- Căn cứ khoản 1 điều 51, khoản 1 điều 56; điều 57, điều 58, điều 81, điều 82, điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Xử:

1. Quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị Quỳnh N được ly hôn anh Thái Bá P

2. Về con chung: Giao con chung Thái Thị Linh S, sinh ngày 04/10/2019 cho chị Nguyễn Thị Quỳnh N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với anh Thái Bá P.

Anh Thái Bá P có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về tài sản chung và nợ: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Án phí: Chị Nguyễn Thị Quỳnh N phải chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, án phí của chị N được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Diễn Châu theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0001527 ngày 10/01/2022

5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Quỳnh N có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Anh Thái Bá P vắng mặt được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ