- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa chị Tạ Thúy H - anh Bùi Duy P"
- Tòa quyết gì? luật tố tụng dân sự; Điều 56, 57 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2022/HNGĐ-ST Ngày 10 -8-2022 V/v Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG - TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoàng Liên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Bùi Quang Uyên
2. Bà Trần Thị Huệ.
Thư ký phiên toà: Ông Phan Quốc Vương - Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.
Ngày 10 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bảo Thắng,
tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 115/2022/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2022 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Tạ Thúy H - Sinh năm: 2000;
Địa chỉ: Km A, phường L, thành phố L, tỉnh Lào Cai - Có mặt.
2. Bị đơn: Anh Bùi Duy P - Sinh năm: 2000;
Nơi ĐKHK: Thôn A, xã S, huyện B, tỉnh Lào Cai; Hiện đang chấp Hành án
tại Đội A, phân trại số, Trại giam Hồng Ca.
(Địa chỉ: xã H, huyện T, tỉnh Yên Bái) - Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng
mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện gửi đến Tòa án ngày 15/6/2022 và bản tự khai trong
quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, chị Tạ Thúy H trình bầy:
Chị và anh Bùi Duy P đăng ký kết hôn ngày 10/8/2020 tại UBND xã H,
huyện B, tỉnh Lào Cai. Quá trình chung sống đến tháng 11/2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính cách không hợp, bất đồng quan điểm, thường xuyên xô xát, cuộc sống không hạnh phúc; Đầu năm 2021, anh Bùi Duy P vi phạm pháp luật, phải chấp Hnh án tại Trại giam Hồng Ca. Từ đó ảnh hưởng đến cuộc sống gia đình, bản thân chị xét thấy tình cảm không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Bùi Duy P.
Tại bản tự khai ngày 27/6/2022, anh Bùi Duy P trình bầy: Anh và chị H
đăng ký kết hôn ngày 10/8/2020 tại UBND xã Sơn H, huyện Bảo Thắng, anh chị kết hôn tự nguyện và chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2021 thì anh vi phạm pháp luật, bị Tòa án nhân dân tHnh phố Lào Cai xét xử và phải chấp Hnh án tại Trại giam Hồng Ca. Nay chị H có đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn thì anh cũng nhất trí, không có ý kiến gì khác.
Về con chung: Chị H và anh P đều xác nhận quá trình chung sống không có
con chung.
Về tài sản chung và công nợ chung: Chị H và anh P đều xác nhận không có
tài sản chung, không có công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng
cho các đương sự theo quy định. Tòa án đã mở phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai các tài liệu, chứng cứ nhưng không hòa giải được vụ án do anh P có đơn xin vắng mặt tại phiên họp với lý do đang chấp Hnh án. Tòa án đã thông báo kết quả phiên họp cho anh Bùi Duy P theo quy định, anh P không có ý kiến gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra
tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Tạ Thúy H khởi kiện xin ly hôn với anh Bùi
Duy P. Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại xã Sơn H, huyện Bảo Thắng. Vì vậy đây là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh P là hợp
pháp, anh chị đều xác nhận có mâu thuẫn, cuộc sống không hạnh phúc do anh P phải chấp Hnh án ảnh hưởng đến cuộc sống chung, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy việc chị H xin ly hôn với anh P là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Tòa án đã tiến Hnh tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho các đương sự
theo quy định của pháp luật. Anh Bùi Duy P đã có bản tự khai trình bầy ý kiến và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt anh theo quy định. Vì vậy Tòa án xét xử vắng mặt anh P là phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 227 và Khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về con chung: Quá trình chung sống, chị H và anh P không có con chung
nên không xem xét giải quyết.
[4] Về tài sản chung và công nợ chung: Chị H và anh P xác nhận không
có tài sản chung, không nợ ai và không cho ai vay nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[5] Về án phí: Chị Tạ Thúy H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy
định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 227, Khoản 1 Điều 228, Khoản 4 Điều 147 Bộ
luật tố tụng dân sự; Điều 56, 57 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
1. Xử cho chị Tạ Thúy H được ly hôn với anh Bùi Duy P.
Quan hệ hôn nhân giữa chị Tạ Thúy H và anh Bùi Duy P chấm dứt kể từ
ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về án phí: Chị Tạ Thúy H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000
đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0002970 ngày 16/6/2022 của Chi cục thi Hnh án dân sự huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai; Chị Tạ Thúy H đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Nguyên
đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lào Cai; - VKSND huyện Bảo Thắng (2); - Đương sự (2); - UBND xã Sơn H; - Chi cục THADS Bảo Thắng ; - Lưu HS, TA, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hoàng Liên |