vanban.org

Bản án 36/2022/HN-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị C.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị C được ly hôn với ông Lê Trọng Đ. Về con chung: Giao 02 con chung Lê Trọng T1, sinh năm 2005, Lê Trọng T, sinh năm 2008 cho bà Nguyễn Thị C trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi. Bà Cúc không yêu cầu ông Đức cấp dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? * Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị C.
  • Căn cứ chính? Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN Ô MÔN,
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2022/HN-ST
Ngày: 26/7/2022
Về việc: “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN

Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Thanh Thái

- Các Hội thẩm Nhân dân:

1.

Ông Hồ Minh Khương

2.

Ông Nguyễn Văn Trung

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phan Thị Như Ngọc – Thư ký Tòa án Nhân dân quận Ô Môn.

Ngày 26 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình đã thụ lý số: 84/2022/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 03 năm 2022 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2022/QĐST-HN ngày 11 tháng 07 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1972 (có mặt)

Địa chỉ: Số 155, Khu vực Tân Xuân, phường Trường Lạc, quận Ô Môn, Tp Cần Thơ.

- Bị đơn: ông Lê Trọng Đ, sinh năm 1971 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số 155, Khu vực Tân Xuân, phường Trường Lạc, quận Ô Môn, Tp Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo Đơn khởi kiện ngày 29/02/2022 cũng như trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị C trình bày: Giữa bà và ông Lê Trọng Đ tự nguyện tiến đến hôn nhân năm 1995, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Trà Nóc, thành phố Cần Thơ, tỉnh Cần Thơ. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng sau đó ông bà phát sinh mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông Đức không chăm lo cuộc sống gia đình, không quan tâm đến vợ con, cuộc sống vợ chồng không hợp nhau. Bà xác định tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc nên hiện tại ông bà không còn sống chung với nhau. Bà không còn tình cảm với ông Lê Trọng Đ nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Lê Trọng Đ.

- Về con chung: Trong thời gian chung sống bà và ông Lê Trọng Đ có 03 con chung tên Lê Trọng T, sinh năm 1997 (đã thành niên), Lê Trọng T1, sinh năm 2005, Lê Trọng T, sinh năm 2008. Khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi con chung là Lê Trọng T1, sinh năm 2005, Lê Trọng T, sinh năm 2008 đến tuổi trưởng thành, bà Cúc không yêu cầu ông Đức cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Sẽ tự thoả thuận

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn ông Lê Trọng Đ: Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, giấy triệu tập nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên không thể tiến hành hòa giải được. Do đó, Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử theo quy định pháp luật. Đồng thời ông có đơn xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc được ly hôn với ông Lê Trọng Đ, yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Trọng T, sinh năm 1997 (đã thành niên), Lê Trọng T1, sinh năm 2005, Lê Trọng T, sinh năm 2008, không yêu cầu ông Đức cấp dưỡng.

Bị đơn ông Lê Trọng Đ vắng mặt tại phiên tòa nên không thể hiện ý kiến đối với vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

* Về quan hệ pháp luật bên tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Lê Trọng Đ. Giữa bà Nguyễn Thị C và ông Lê Trọng Đ chung sống với nhau có đăng ký kết hôn theo qui định của Luật hôn nhân và gia đình nên xem là hôn nhân hợp pháp. Bị đơn hiện đang sinh sống tại phường Trường Lạc, quận Ô Môn, Tp Cần Thơ. Bà Cúc và ông Lê Trọng Đ chung sống với nhau không hạnh phúc, bà Nguyễn Thị C có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Lê Trọng Đ nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp ly hôn, tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận Ô Môn theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

* Về thủ tục tố tụng:

Tòa án đã tiến hành triệu tập bị đơn ông Lê Trọng Đ tham gia phiên họp về việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhiều lần nhưng ông đều vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử.

Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ đến lần thứ hai về việc đưa vụ án ra xét xử nhưng ông Lê Trọng Đ vắng mặt không có lý do và ông Đức có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

* Về nội dung vụ án:

- Về yêu cầu ly hôn của nguyên đơn: Quá trình giải quyết vụ án bà Cúc trình bày sau khi đăng ký kết hôn, bà và ông Lê Trọng Đ chung sống với nhau thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, chủ yếu do ông Lê Trọng Đ không chăm lo cho cuộc sống gia đình, dẫn đến vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống. Sau đó bà và ông Lê Trọng Đ đã ly thân.

Hội đồng xét xử xét thấy: Theo quy định tại Điều 17; Điều 19; Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì “Vợ, chồng bình đẳng với nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình; Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình” nhưng theo lời trình bày của bà Cúc thì từ khi vợ chồng không sống chung tới nay, ông Lê Trọng Đ không quan tâm, chăm sóc cho bà và con. Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ đối với ông Lê Trọng Đ nhằm hòa giải, tạo điều kiện để ông bà hàn gắn tình cảm với nhau nhưng ông Lê Trọng Đ vẫn vắng mặt không lý do, thể hiện ông không thật sự muốn hàn gắn tình cảm với bà Cúc.

Xét trên thực tế bà Cúc và ông Lê Trọng Đ đã sống ly thân, không còn sự quan tâm, thăm hỏi với nhau, cho thấy vợ chồng có sự bỏ mặt nhau, muốn sống ra sao thì sống. Nhận thấy, tình trạng vợ chồng giữa bà Cúc và ông Lê Trọng Đ đã rạn nứt, hôn nhân đã chấm dứt trên thực tế; đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nếu tiếp tục cũng không mang lại hạnh phúc cho bà Cúc và ông Lê Trọng Đ. Vì vậy, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà Nguyễn Thị C.

- Về con chung: Bà Cúc trình bày giữa bà với ông Lê Trọng Đ chung sống có 03 con chung tên Lê Trọng T, sinh năm 1997 (đã thành niên), Lê Trọng T1, sinh năm 2005, Lê Trọng T, sinh năm 2008, ngoài ra không còn con chung nào khác. Bà trình bày sau khi vợ chồng phát sinh mâu thuẩn, việc chăm sóc con là do bà thực hiện nên bà Cúc yêu cầu được nuôi 02 con chung là Lê Trọng T1, sinh năm 2005, Lê Trọng T, sinh năm 2008, không yêu cầu ông Lê Trọng Đ cấp dưỡng nuôi con.

Hội đồng xét xử thấy: Qua lời trình bày của bà Cúc thấy rằng hiện con chung hiện đang sinh sống cùng bà, việc sinh hoạt và học tập của cháu Tiến, cháu Tài là do chính bà Cúc thực hiện và cháu Tiến, cháu Tài cũng có nguyện vọng sống cùng bà Cúc. Bên cạnh, ông Lê Trọng Đ không đến tham gia phiên tòa nên không có ý kiến thừa nhận hay phản đối với lời trình bày của bà Cúc nên căn cứ vào khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử ghi nhận lời trình bày của bà Cúc. Nhận thấy, việc giao con chung cho bà Cúc trực tiếp nuôi dưỡng sẽ đảm bảo được cho các cháu về việc phát triển thể chất lẫn tinh thần, đảm bảo không làm xáo trộn cuộc sống của cháu nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu trực tiếp nuôi con chung của bà Cúc.

Song, quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con cái (con chung) là thiêng liêng nên người không trực tiếp nuôi con (ông Lê Trọng Đ) có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

Do bà Cúc không yêu cầu ông Đức cấp dưỡng nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Do vụ án xét xử vắng mặt bị đơn nên chỉ ghi nhận ý kiến của nguyên đơn về việc không có nợ chung. Trường hợp sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác.

Về tài sản chung: Bà Cúc trình bày sẽ tự thoả thuận, tương tự do vắng mặt bị đơn nên chỉ ghi nhận ý kiến của nguyên đơn. Trường hợp sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác.

* Về án phí: Áp dụng Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2017/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị C phải chịu theo quy định của pháp luật về án phí ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 4 Điều 147, Khoản 1 Điều 207, điểm b Khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 116 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

* Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị C.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị C được ly hôn với ông Lê Trọng Đ.

- Về con chung: Giao 02 con chung Lê Trọng T1, sinh năm 2005, Lê Trọng T, sinh năm 2008 cho bà Nguyễn Thị C trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi. Bà Cúc không yêu cầu ông Đức cấp dưỡng.

Ông Lê Trọng Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Bà Nguyễn Thị C cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung

- Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị C cho rằng không có, nếu sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.

- Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị C cho rằng sẽ tự thoả thuận với ông Đức, nếu sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác

- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị C phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), chuyển tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0003245 ngày 09/03/2022 của Chi Cục Thi hành án dân sự quận Ô Môn, TP. Cần Thơ thành án phí.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định) để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

* Nơi nhận:

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Các đương sự;

Cỡ chữ