vanban.org

Bản án 36/2022/HN&GĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Huỳnh Thị Yến Nh.

Về con chung: Buộc anh Hồ Thanh Ph giao cháu Hồ Huỳnh Phương Nghi (nữ), sinh ngày 18/7/2020 cho chị Huỳnh Thị Yến Nh nuôi dưỡng. Chị Nh chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên chưa xem xét. Dành quyền thăm nom, chăm sóc con chung cho anh Hồ Thanh Ph không ai được quyền cản trở. Về tài sản chung, n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Huỳnh Thị Yến Nh.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THỊ XÃ LONG MỸ
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2022/HN&GĐ-ST
Ngày: 20 - 9 - 2022
V/v: Tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN DÂN NHÂN THỊ XÃ LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Lẫm.

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Trưởng.

Bà Trịnh Thị Trúc Linh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Nhiệm – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thị Kim Chúc – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 109/2022/TLST - HN&GĐ ngày 11/8/2022 vụ án "Tranh chấp ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2022/QĐXXST - HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 58/2022/QĐST-DS ngày 12 tháng 9 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Yến Nh, sinh năm: 1991.

Địa chỉ cư trú: Ấp 2, xã T, thành phố B, tỉnh Hậu Giang. Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Hồ Thanh Ph, sinh năm: 1989.

Địa chỉ cư trú: Ấp 6, xã A, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 01/8/2022, quá trình thu thập chứng cứ và tại phiên tòa nguyên đơn chị Huỳnh Thị Yến Nh trình bày: Vào năm 2018 chị và anh Hồ Thanh Ph tổ chức lễ cưới đến ngày 25/5/2020 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Thành, thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang, hôn nhân do chị và anh Ph tự nguyện. Chị và anh Ph chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do làm ăn thất bại dẫn đến anh Ph không lo lắng cho gia đình, bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung. Chị và anh Ph đã ly thân từ tháng 4/2022 đến nay. Do cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, không thể hàn gắn được nên chị Nh yêu cầu được ly hôn với anh Ph.

Về con chung: Chị Nh và anh Ph có 01 con chung tên Hồ Huỳnh Phương Nghi (nữ), sinh ngày 18/7/2020, con chung hiện nay do anh Ph nuôi dưỡng, do lúc cự cãi anh Ph bắt cháu Nghi không cho ở với chị. Khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh Ph cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

Tại văn bản ngày 22/8/2022, biên bản hòa giải ngày 22/8/2022 bị đơn anh Hồ Thanh Ph trình bày: Thống nhất với lời trình bày của chị Nh về thời gian tổ chức lễ cưới đến ngày 25/5/2020 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Thành, thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang là đúng. Anh và chị Nh chung sống đến năm 2021 thì chị Nh đòi đi thành phố Hồ Chí Minh làm thuê nhưng anh không đồng ý nên chị Nh tự ý bỏ đi làm cho đến nay. Do anh còn thương chị Nh nên không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị Nh.

Về con chung: Có 01 con chung tên Hồ Huỳnh Phương Nghi (nữ), sinh ngày 18/7/2020, con chung sống với anh từ ngày 25/5/2022 đến nay vì chị Nh đi làm ăn xa. Nếu Tòa án giải quyết cho chị Nh ly hôn với anh thì anh đồng ý giao con chung cho chị Nh nuôi dưỡng nhưng chị Nh phải đảm bảo cho con phát triển tốt về mọi mặt.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án, từ khi tòa án thụ lý vụ án đến nay Thẩm phán được phân công đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự như: Xác định mối quan hệ tranh chấp, tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng, gửi quyết định xét xử cho Viện kiểm sát nghiên cứu, cấp tống đạt văn bản tố tụng cho những người tham gia tố tụng đúng theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng theo thủ tục quy định về phiên toà sơ thẩm. Đối với chị Nh, anh Ph: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên toà hôm nay chị Nh, anh Ph đã thực hiện đúng quy định tại Điều 70,71,72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung kiểm sát viên đề nghị:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Huỳnh Thị Yến Nh. Cho chị Huỳnh Thị Yến Nh được ly hôn với anh Hồ Thanh Ph.

Về con chung: Giao cháu Hồ Huỳnh Phương Nghi (nữ), sinh ngày 18/7/2020 cho chị Huỳnh Thị Yến Nh nuôi dưỡng. Anh Hồ Thanh Ph chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung. Dành quyền thăm nom chăm sóc con chung cho anh Ph không ai được quyền cản trở.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Ngoài ra Kiểm sát viên còn đề nghị án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm đương sự phải chịu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Đối với bị đơn anh Hồ Thanh Ph đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt anh Ph.

Về quan hệ pháp luật: Đây là vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh Thị Yến Nh và anh Hồ Thanh Ph tổ chức lễ cưới năm 2018 đến ngày 25/5/2020 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Thành, thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang theo đúng quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa chị Nh và anh Ph là hợp pháp được pháp luật công nhận là vợ chồng.

Sau khi tổ chức lễ cưới chị Nh và anh Ph chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn tại phiên tòa chị Nh trình bày là do làm ăn thất bại dẫn đến anh Ph về nhà cha mẹ ruột ở tại ấp 6, xã Long Trị, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang sinh sống nên không còn quan tâm, lo lắng cho gia đình, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Còn anh Ph trình bày nguyên nhân mâu thuẫn là do chị Nh đòi đi thành phố Hồ Chí Minh làm thuê anh không đồng ý và chị Nh tự ý bỏ đi làm cho đến nay. Mặc dù nguyên nhân mâu thuẫn chị Nh và anh Ph trình bày không thống nhất nhưng tại biên bản hòa giải ngày 22/8/2022 chị Nh và anh Ph đều thừa nhận chị Nh và anh Ph đã ly thân từ tháng 4/2022 đến nay. Từ khi chị Nh và anh Ph ly thân đến nay thì anh chị không liên lạc với nhau, giữa các bên không có thiện chí hàn gắn lại cuộc sống vợ chồng. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành hòa giải để hàn gắn lại cuộc sống vợ chồng giữa chị Nh và anh Ph nhưng quá trình hòa giải và tại phiên tòa chị Nh vẫn cương quyết xin ly hôn với anh Ph. Điều đó cho thấy tình nghĩa vợ chồng giữa chị Nh và anh Ph không thể hàn gắn được, vợ chồng không còn quan tâm, yêu thương chăm sóc lẫn nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của chị Nh là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Chị Nh và anh Ph có 01 con chung tên Hồ Huỳnh Phương Nghi (nữ), sinh ngày 18/7/2020, con chung hiện nay do anh Ph nuôi dưỡng, khi ly hôn chị Nh yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, chưa yêu cầu anh Ph cấp dưỡng. Hội đồng xét xử nhận thấy từ khi cháu Nghi sinh ra đến ngày 25/5/2022 thì chị Nh và anh Ph trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nghi. Khi anh Ph và chị Nh ly thân tháng 4/2022 đến nay thì cháu Nghi do anh Ph nuôi dưỡng do chị Nh đi làm thuê. Tại biên bản hòa giải ngày 22/8/2022 anh Ph đồng ý giao cháu Nghi lại cho chị Nh nuôi dưỡng, mặt khác cháu Nghi chưa đủ 36 tháng tuổi nên Hội đồng xét xử xét xử giao cháu Nghi cho chị Nh nuôi dưỡng là đúng theo quy định tại khoản 2, 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đương sự còn phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 5, 28, 35, 147, 227, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ vào Điều 9, 53, 56, 57, 81, 82, 83, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Huỳnh Thị Yến Nh. Cho chị Huỳnh Thị Yến Nh được ly hôn với anh Hồ Thanh Ph.

Về con chung: Buộc anh Hồ Thanh Ph giao cháu Hồ Huỳnh Phương Nghi (nữ), sinh ngày 18/7/2020 cho chị Huỳnh Thị Yến Nh nuôi dưỡng. Chị Nh chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên chưa xem xét. Dành quyền thăm nom, chăm sóc con chung cho anh Hồ Thanh Ph không ai được quyền cản trở.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Huỳnh Thị Yến Nh phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), chuyển 300.000 đồng chị Nh đã nộp theo biên lai thu số 0004340 ngày 11/8/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ thành án phí. Chị Nh đã nộp xong.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn chị Huỳnh Thị Yến Nh có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 20/9/2022. Bị đơn anh Hồ Thanh Ph có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đư

ợc bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư trú.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ