- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ngân hàng Sacombank tranh chấp hợp đồng vay tài sản với ông V"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín, buộc ông Đặng Huy V có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín số tiền nợ gốc là 23.
- Căn cứ chính? Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2022/DS-ST. Ngày: 16-6-2022. V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Nĩnh.
Ông Trần Mạnh Hùng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Hồng- Thư ký Toà án của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tỉnh Long An.
Ngày 16 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành tỉnh Long An, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 85/2021/TLST-DS ngày 30 tháng 6 năm 2021, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2022/QĐXXST-DS, ngày 05 tháng 5 năm 2022, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín, địa chỉ: Số nhà 266-268, đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường Võ Thị Sáu, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Hoàng Lan- chức vụ: Chuyên viên khách hàng cá nhân- Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín- chi nhánh Long An- phòng giao dịch Tân An, địa chỉ: Số 25, đường Nguyễn Đình Chiểu, Phường 1, thành phố Tân An, tỉnh Long An (theo văn bản ủy quyền ngày 08 tháng 6 năm 2021). (có mặt)
Bị đơn: Ông Đặng Huy V, sinh năm 1982, địa chỉ: Số nhà 94/2, ấp L, xã An Lục Long, huyện Châu Thành, tỉnh Long An. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn là Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín trình bày trong đơn khởi kiện và trình bày tiếp theo của bà Nguyễn Thị Hoàng Lan là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án như sau:
Ngày 26/3/2018, ông V có ký với Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng, Ngân hàng đã cấp thẻ tín dụng cho ông V với hạn mức sử dụng là 30.000.000 đồng, mục đích là tiêu dùng cá nhân, lãi suất thẻ là 2,6%/tháng, ông V có nghĩa vụ thanh toán tiền vay và tiền lãi hàng tháng. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông V đã thực hiện nhiều giao dịch, ông V không thực hiện việc trả tiền đúng thỏa thuận, không thực hiện việc trả tiền nhiều tháng liên tục. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông V vẫn không có thiện chí trả nợ. Tính đến ngày 25 tháng 5 năm 2022 thì ông V còn nợ tiền gốc với số tiền là 23.578.118 đồng, tiền lãi là 26.217.076 đồng.
Ngân hàng yêu cầu ông V trả cho Ngân hàng số tiền gốc là 23.578.118 đồng, tiền lãi là 26.217.076 đồng, tiếp tục tính lãi trên số tiền gốc còn nợ từ ngày 26 tháng 5 năm 2022 cho đến khi ông V trả xong số tiền nợ gốc.
Bị đơn là ông Đặng Huy V không tham gia tố tụng, không có ý kiến gì về việc khởi kiện của nguyên đơn.
Các đương sự không còn trình bày hay yêu cầu gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Nguyên đơn kiện bị đơn tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tỉnh Long An thụ lý giải quyết.
Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 227 và 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt đối với bị đơn.
Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả nợ vay với số tiền gốc là 23.578.118 đồng, tiền lãi tính đến ngày 25 tháng 5 năm 2022 là 26.217.076 đồng, tiếp tục tính lãi trên số tiền gốc còn nợ từ ngày 26 tháng 5 năm 2022 cho đến khi trả xong số tiền nợ gốc. Bị đơn không tham gia tố tụng, không có ý kiến gì về việc khởi kiện của nguyên đơn. Hội đồng xét xử xét thấy nguyên đơn cung cấp được đầy đủ chứng cứ để chứng minh là bị đơn có vay tiền và còn nợ tiền vay như nguyên đơn trình bày. Bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền theo thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng, yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại các Điều 468 và 470 của Bộ luật dân sự năm 2015, nên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn số tiền nợ gốc là 23.578.118 đồng, tiền lãi tính đến ngày 25 tháng 5 năm 2022 là 26.217.076 đồng, tiếp tục tính lãi trên số tiền gốc còn nợ từ ngày 26 tháng 5 năm 2022 cho đến khi ông V trả xong số tiền nợ gốc.
Về án phí: Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Áp dụng các Điều 468 và 470 của Bộ luật dân sự năm 2015;
- Áp dụng Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín, buộc ông Đặng Huy V có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín số tiền nợ gốc là 23.578.118 đồng (hai mươi ba triệu năm trăm bảy mươi tám nghìn một trăm mười tám đồng), tiền lãi tính đến ngày 25 tháng 5 năm 2022 là 26.217.076 đồng (hai mươi sáu triệu hai trăm mười bảy nghìn không trăm bảy mươi sáu đồng), tổng tiền gốc và lãi là 49.795.194 đồng (bốn mươi chín triệu bảy trăm chín mươi lăm nghìn một trăm chín mươi tư đồng), tiếp tục tính lãi theo mức lãi suất quy định trong giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng trên số tiền gốc còn nợ từ ngày 26 tháng 5 năm 2022 cho đến khi ông Đặng Huy V trả xong số tiền nợ gốc.
2. Về án phí:
Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.060.500 đồng (một triệu không trăm sáu mươi nghìn năm trăm đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000790 ngày 30 tháng 6 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành tỉnh Long An.
Ông Đặng Huy V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền là 2.490.000 đồng (hai triệu bốn trăm chín mươi nghìn đồng).
3. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm.
4. Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. *Nơi nhận:
| -Tòa án tỉnh; -Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành; -Cơ quan thi hành án huyện Châu Thành; -Các đương sự; -Lưu (hồ sơ, án văn) 0 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Văn Tùng |