- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Văn B - phạm tội tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép (điều 348 Luật sửa đổi, bổ sung m…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Văn B phạm tội Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2021/HS-ST Ngày 19-7-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuệ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Tuấn Tú
Bà Trần Thị Dung
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Cẩm Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Vi Đức Hoàn - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 7 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 39/2021/TLST-HS ngày 09 tháng 6 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2021/QĐXXST-QĐ ngày 06 tháng 7 năm 2021 đối với bị cáo:
Dương Văn B, sinh ngày 02 tháng 10 năm 1990 tại thành phố S, tỉnh Thái Nguyên. Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Tổ dân phố K, phường L, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Quang S và bà Dương Thị T; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật; bị bắt tạm giữ ngày 25-12-2020, tạm giam từ ngày 29-12-2020 đến nay; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bản thân Dương Văn B làm nghề lái xe taxi. Khoảng 21 giờ ngày 24-12-2020. Dương Văn B và một người bạn (theo Dương Văn B khai là Lý Văn K, Lý Văn K sử dụng hai số điện thoại 0878041401; 0562643669 và tài khoản Zalo “phong Thần”) cùng nhau uống rượu tại chợ ký túc xá S tại xã Đ, thị xã P, tỉnh Thái Nguyên. Qua nói chuyện, Lý Văn K bảo với Dương Văn B ngày 25-12-2020 có vài người khách muốn đi từ thành phố T đến tỉnh Lạng Sơn, khi đến nơi sẽ có người đón, trả tiền cước xe cho Dương Văn B và hỏi Dương Văn B có chở đi được không, Dương Văn B nói chở được. Lý Văn K cho Dương Văn B biết địa chỉ đón khách tại vòng xuyến trung tâm thành phố T, thời gian đón khoảng hơn 16 giờ, Dương Văn B đồng ý.
Khoảng 13 giờ ngày 25-12-2020, Lý Văn K sử dụng tài khoản zalo “phong Thần” nhắn tin qua zalo cho Dương Văn B với nội dung "Cửa biên chưa dám nhận, chắc muộn tí mới đón hoặc ngày mai", lúc này Dương Văn B biết Lý Văn K bảo mình chở người đến Lạng Sơn để họ xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc. Sau đó, Dương Văn B bảo Lý Văn K khi nào khách đi được thì nhắn lại cho Dương Văn B. Khoảng 16 giờ 30 cùng ngày, Dương Văn B nhận được điện thoại từ số 0878041401 của Lý Văn K, Lý Văn K gửi tin nhắn zalo cho Dương Văn B số điện thoại 0877002865 của người đón để Dương Văn B chủ động liên lạc giao khách khi đến Lạng Sơn, Lý Văn K dặn Dương Văn B khi nào chuẩn bị đến nơi thì gọi cho người đón, Dương Văn B đồng ý.
Khoảng 17 giờ cùng ngày, Dương Văn B đang chờ trong xe thì có một người đàn ông đi xe môtô (không xác định được) đến gặp Dương Văn B; sau khi xác nhận Dương Văn B là người đón khách cho Lý Văn K, người này hỏi Dương Văn B giá tiền chở khách đến trị trấn Lộc Bình, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn. Sau khi định vị báo khoảng cách là khoảng 170km, đồng thời Dương Văn B biết đây là khách xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc nên đã tăng giá tiền taxi từ 8.000đ/01km lên 10.000đ/01km tương đương tổng giá tiền công là 1.700.000đ, người đàn ông đồng ý và nói sẽ trả thêm cho Dương Văn B 300.000 đồng là phí đi đường, tổng số tiền là 2.000.000 đồng. Khi nào Dương Văn B giao được khách thì người đón nhận khách sẽ trả cho Dương Văn B số tiền này, Dương Văn B đồng ý. Sau khi thỏa thuận xong, Dương Văn B được người đàn ông trên dẫn đến tòa nhà chung cư gần đó để đón khách. Khi đến nơi người đàn ông trên lần lượt dẫn 04 người đàn ông (gồm: Đàm H, Phan Kiến L, Phan Thủy L, Đàm Khánh Đ) ra và đưa lên xe của Dương Văn B, sau đó Dương Văn B lái xe chở 04 người khách đi về hướng cao tốc Bắc Giang - Lạng Sơn và nhắn tin zalo thông báo cho Lý Văn K biết đã đón được khách. Từ khi lên xe, Dương Văn B và những người khách không nói chuyện gì với nhau nên Dương Văn B chưa biết họ là người Trung Quốc.
Khoảng 17 giờ 45 phút ngày 25-12-2020, khi đang trên đường đi, Dương Văn B gọi điện vào số điện thoại 0877002865 của người đón thì có một người nam giới nghe máy, người này bảo Dương Văn B cứ đi đến thị trấn L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn, khi đến nơi anh ta sẽ gửi vị trí địa điểm đón khách cụ thể cho Dương Văn B. Trên đường đi thì người khách ngồi cạnh ghế lái ra hiệu cho Dương Văn B muốn uống nước, lúc này Dương Văn B biết là khách không biết nói tiếng Việt Nam nên mới biết những người khách trên xe là người Trung Quốc, xuất cảnh trái phép để về nước. Sau đó, Dương Văn B nhận được tin nhắn zalo của Lý Văn K bảo Dương Văn B mua cho 04 người khách mỗi người 01 chai nước để họ uống khi đi qua biên giới, Dương Văn B đồng ý.
Khoảng 20 giờ ngày 25-12-2020, Dương Văn B chở 04 người khách Trung Quốc lên đến thành phố L thì nhận được điện thoại của người đàn ông đón khách hỏi Dương Văn B đã đi đến đâu và trao đổi về địa điểm đón khách. Sau đó cả hai kết bạn zalo với nhau (tên tài khoản zalo của người đón khách là “Ttl”), rồi Dương Văn B gửi vị trí của mình qua zalo cho người đón khách và được người này gửi lại vị trí địa điểm đang chờ. Hồi 21 giờ 10 phút cùng ngày khi Dương Văn B điều khiển xe ôtô chở 04 người Trung Quốc đến khu vực thôn L, xã Đ, huyện L, tỉnh Lạng Sơn thì bị lực lượng chức năng phát hiện bắt quả tang.
Đối với 04 người đàn ông Trung Quốc, xác định được: Do muốn sang Việt Nam để đánh bạc, nên Đàm H, Phan Kiến L, Phan Thủy L, Đàm Khánh Đ đã tự liên hệ và thông qua những người quen trên mạng xã hội (người Trung Quốc, không biết tên, tuổi, địa chỉ) để đưa nhập cảnh trái phép vào Việt Nam (Trong đó: Đàm H và Phan Kiến L cùng nhập cảnh; Phan Thủy L, Đàm Khánh Đ tự nhập cảnh theo đường khác nhau). Sau khi vào Việt Nam 04 người Trung Quốc trên được những người Việt Nam (không xác định được) bố trí ăn ở những nơi khác nhau trong lãnh thổ Việt Nam (không xác định được). Sau một thời gian ở lại trái phép trong lãnh thổ Việt Nam thì những người đàn ông Trung Quốc trên lại được các đối tượng người Trung Quốc và người Việt Nam (không xác định được) bố trí để đưa xuất cảnh trái phép về nước. Ngày 25-12-2020, 04 người đàn ông Trung Quốc trên lần lượt được bố trí và cùng được đưa lên xe ôtô BKS: 20A-157.46 của Dương Văn B đón và đưa đi từ thành phố T đến huyện L, tỉnh Lạng Sơn để xuất cảnh trái phép về nước, trên đường đi thì bị bắt giữ.
Bản Cáo trạng số: 70/CT-VKS-P2 ngày 08-6-2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Dương Văn B về tội Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép theo quy định tại khoản 1 Điều 348 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và xác định 02 chiếc điện thoại OPPO đang bị thu giữ có liên quan đến hành vi phạm tội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo phạm tội Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép. Căn cứ khoản 1 Điều 348, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Dương Văn B từ 30 đến 36 tháng tù. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 02 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, 01 giấy chứng minh nhân dân và 01 giấy phép lái xe. Bị cáo phải chịu tiền án phí theo quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã nhận thấy lỗi lầm của bản thân, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có căn cứ xác định: Hồi 21 giờ 10 phút ngày 25-12-2020 tại thôn L, xã Đ, huyện L, tỉnh Lạng Sơn, lực lượng chức năng phát hiện bắt quả tang Dương Văn B điều khiển xe ôtô taxi BKS: 20A-157.46 chở 04 người Trung Quốc, mục đích xuất cảnh trái phép về Trung Quốc, để lấy tiền công 2.000.000 đồng (Dương Văn B chưa được nhận). Với hành vi trên, việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Dương Văn B phạm tội Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép theo quy định tại khoản 1 Điều 348 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xét tính chất,mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính trong lĩnh vực xuất nhập cảnh của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và gây mất ổn định xã hội tại địa phương nhất là khu vực biên giới; đặc biệt là trong giai đoạn dịch bệnh Covid-19 đang diễn biến phức tạp trong nước cũng như trên thế giới, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được rõ hành vi tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép là vi phạm pháp luật, nhưng vì hám lợi mà vẫn cố ý thực hiện. Chính vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần được xử lý nghiêm minh đúng theo pháp luật nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy rằng: Bị cáo là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo luôn thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định khoản 4 Điều 348 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Do đó, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo Biên bản xác minh ngày 09/02/2021, bị cáo không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Các biện pháp tư pháp: Trong vụ án này bị cáo chưa được hưởng lợi nên không thực hiện truy thu đối với bị cáo.
Đối với những đối tượng người Trung Quốc đưa Đàm H, Phan Kiến L, Phan Thủy L, Đàm Khánh Đ nhập cảnh trái phép vào Việt Nam và những đối tượng người Việt Nam bố trí ăn ở, sau đó bố trí đưa những người Trung Quốc trên xuất cảnh trái phép về Trung Quốc. Do không có thông tin cụ thể nên không thể điều tra làm rõ. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với người đàn ông tên Lý Văn K là người bảo Dương Văn B đón chở khách để xuất cảnh trái phép. Theo lời khai của Dương Văn B, Lý Văn K sử dụng hai số điện thoại: 0878041401, 0562643669 và tài khoản Zalo “phong Thần”. Qua xác minh xác định 02 số điện thoại trên đều chưa đăng ký thông tin chủ thuê bao, bản thân Lý Văn K không có mặt tại địa phương, không biết đi đâu, làm gì. Do chỉ có lời khai duy nhất của Dương Văn B, chưa có cơ sở để xử lý đối với Lý Văn K. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra, xử lý sau khi có căn cứ nên không Hội đồng xét xử không có kiến nghị gì.
Đối với người đàn ông đón khách ở biên giới sử dụng số điện thoại 0877002865 và tài khoản Zalo “Ttl”. Qua xác minh xác định số điện thoại 0877002865 có đăng ký chủ thuê bao là Nguyễn Lê Minh T (sinh ngày: 02/12/1994, ĐKHKTT: Thôn P, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận). Tuy nhiên Nguyễn Lê Minh T khẳng định không sử dụng hoặc cho người nào sử dụng thông tin cá nhân để đăng ký chủ thuê bao đối với số điện thoại 0877002865, Nguyễn Lê Minh T không sử dụng và không biết ai là người sử dụng số điện thoại này. Do không có căn cứ để xác minh làm rõ nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với chiếc xe ôtô taxi nhãn hiệu Kia morning BKS: 20A - 157.46 do Dương Văn B sử dụng đón, chở 04 người Trung Quốc mục đích xuất cảnh trái phép. Qua xác minh xác định xe ôtô trên là của Công ty Cổ phần kinh doanh và phát triển T. Từ khoảng cuối năm 2019, chiếc xe ôtô trên được giao cho Dương Văn B là lái xe quản lý, sử dụng để kinh doanh dịch vụ taxi cho Công ty. Việc Dương Văn B sử dụng xe ôtô của Công ty vào việc phạm tội Công ty không biết. Do vậy ngày 23-4-2021 Cơ quan An ninh điều tra đã trả lại xe ôtô BKS: 20A - 157.46 cho đại diện Công ty Cổ phần kinh doanh và phát triển T. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội đã xảy ra, đúng với các quy định của pháp luật về xử lý đối với hành vi trên nên chấp nhận.
Về vật chứng: Đối với 02 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO dùng vào việc phạm tội nên tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước; đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, 01 giấy chứng minh nhân dân, 01 giấy phép lái xe không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 348, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Dương Văn B.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 106, khoản 1 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Văn B phạm tội Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Dương Văn B 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày từ ngày 25-12-2020.
3. Về xử lý vật chứng
3.1. Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước:
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu tím đen có số IMEI 1: 865720048567439; số IMEI 2: 865720048567421 (kiểm tra bằng cú pháp *#06#); tình trạng máy điện thoại: cũ, đã qua sử dụng, bị nứt vỡ màn hình; bên trong gắn 01 (một) sim điện thoại Itel, bề mặt sim có dãy số: 898408100 08720449905 và 01 (một) sim điện thoại Intelecom, bề mặt sim có dãy số: 898408100 08718685163.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh có số IMEI 1: 869474055342916; số IMEI 2: 869474055342908 (kiểm tra bằng cú pháp *#06#); tình trạng máy điện thoại: cũ, đã qua sử dụng; bên trong gắn 01 (một) sim điện thoại của nhà mạng Viettel, bề mặt sim có dãy số: 8984 04800 00374 96435.
3.2. Trả lại cho bị cáo:
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen có số IMEI 1: 353057064826681, số IMEI 2: 353057064826699 (kiểm tra bằng cú pháp *#06#); tình trạng điện thoại: cũ, đã qua sử dụng; bên trong gắn 01 (một) sim điện thoại của nhà mạng Viettel, bề mặt sim có dãy số: 8984 048 00032 3019 800.
- 01 (một) chứng minh nhân dân số 091595009 mang tên Dương Văn B do Công an tỉnh Thái Nguyên cấp ngày 25-9-2017.
- 01 (một) Giấy phép lái xe số AL443533 mang tên Dương Văn B do Sở Giao thông vận tải tỉnh Thái Nguyên cấp ngày 31-8-2009.
(Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 09 tháng 06 năm 2021).
4. Về án phí: Bị cáo Dương Văn B phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.
Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - PV 06 CA tỉnh Lạng Sơn; - Cục THADS tỉnh Lạng Sơn; - Bị cáo; - Lưu: VT, Tổ HCTP, THS, HS vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Tuệ |