- Tranh chấp gì? án hình sự — "vụ án - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2021/HS-ST; Ngày: 19-5-2021. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO - TỈNH TIỀN GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Mỹ Trang;
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Nguyễn Thanh Sang;
2/ Ông Nguyễn Tất Ái.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Phạm Nhật Minh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Tân - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 32/2021/HSST ngày 06 tháng 4 năm 2021, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2021/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2021 đối với bị cáo:
Trương Minh H, sinh năm 1989, tại tỉnh Tiền Giang; nơi cư trú và chỗ ở: số 4N3 đường H khu phố 4, phường 3, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: nam; con ông Trương Văn H1 sinh năm 1954 và bà Trần Thị Đ sinh năm 1963; tiền sự: 02 lần; tiền án: Không có; Bị cáo sống như vợ chồng với Nguyễn Thị Hoàng N sinh năm 1991; Bị cáo có 01 người con sinh năm 2013; Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 11/01/2021, tạm giam ngày 15/01/2021. Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Mỹ Tho. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Trần Huy Đ, sinh năm 1983 (vắng mặt);
Nơi cư trú: ấp B, xã S, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Trương Văn H1, sinh năm 1954 (có mặt);
Nơi cư trú: số 4N3 đường H, khu phố 4, phường 3, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
* Người làm chứng:
1. Trần Huy T sinh ngày 21/3/2008 (vắng mặt);
Nơi cư trú: số 260 tổ 9 ấp B, xã T, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
Đại diện theo pháp luật: Trần Huy Đ, sinh năm 1983 (vắng mặt);
- 2 -
Nơi cư trú: ấp B, xã S, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang. 2. Nguyễn Thị Ngọc Đ1, sinh năm 1983 (vắng mặt); Nơi cư trú: số 260 tổ 9 ấp B, xã T, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 06 giờ 40 phút ngày 11/01/2021, bị cáo Trương Minh H điều khiển xe đạp trên đường Lộ Xoài, khi đi ngang nhà số 260, Tổ 9, ấp B, xã T, thành phố Mỹ Tho phát hiện cửa rào mở, trong sân có dựng 01 chiếc xe đạp điện màu xanh dương nên bị cáo H nảy sinh ý định lấy trộm. Bị cáo H điều khiển xe đạp vô sân nhà bỏ lại rồi lên xe đạp điện (có gắn sẵn chìa khóa) điều khiển xe bỏ chạy. Lúc này anh Trần Huy T ở trong nhà phát hiện truy hô nên chị Nguyễn Thị Ngọc Đ1 dùng xe mô tô đuổi theo. Khi đến khu vực đường huyện 87B tổ 13, ấp B, xã T, thành phố Mỹ Tho thì bị cáo H bị lực lượng dân phòng xã T, thành phố Mỹ Tho bắt giữ cùng tang vật là 01 xe đạp điện nhãn hiệu Bomelli N22 màu xanh dương, số sê-ri sườn 60898, số sê-ri mô tơ 206477 và 01 xe đạp kiểu dáng giống xe Martin màu bạc. Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 21 ngày 12/01/2021 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Mỹ Tho kết luận: Một xe đạp điện nhãn hiệu Bomelli N22, màu xanh dương, số sê-ri sườn 60898, số sê-ri mô tơ 206477 trị giá 6.800.000 đồng. Về vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Mỹ Tho đã trao trả xe đạp điện cho bị hại Trần Huy Đ. Hiện anh Đ đã nhận lại xe và không yêu cầu bồi thường gì thêm. Đối với xe đạp mà bị cáo H sử dụng là của ông Trương Văn H1 (cha ruột H). Khi bị cáo H sử dụng xe làm phương tiện phạm tội, ông H1 không biết nên Cơ quan điều tra đã trao trả lại xe cho ông H1. Tại Cáo trạng số 41/CT-VKSMT ngày 05 tháng 4 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho đã truy tố bị cáo Trương Minh H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho vẫn giữ nguyên quan điểm về tội danh và khung hình phạt như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 56, khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trương Minh H từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử tổng hợp hình phạt đối với bị cáo. Về vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Mỹ Tho đã trao trả xe đạp điện cho bị hại Trần Huy Đ. Hiện anh Đ đã nhận lại xe và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
- 3 -
Đối với xe đạp mà bị cáo H sử dụng là của ông Trương Văn H1 (cha ruột H). Khi bị cáo H sử dụng xe làm phương tiện phạm tội ông H1 không biết nên Cơ quan điều tra đã trao trả lại xe cho ông H1.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, việc xử lý vật chứng như trên là phù hợp với quy định pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại xe đạp điện bị mất trộm và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Phát biểu tự bào chữa của bị cáo Trương Minh H: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra thành phố Mỹ Tho, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều không có khiếu nại hay có ý kiến gì về hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
Tại phiên tòa vắng mặt bị hại và người làm chứng. Những người này đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Trong quá trình điều tra, những người tham gia tố tụng nêu trên đã có lời khai cụ thể, đầy đủ, rõ ràng và bị hại đã nhận tiền bồi thường, không có yêu cầu gì thêm. Xét thấy sự vắng mặt của họ không gây khó khăn cho việc xét xử. Căn cứ Điều 292, Điều 293 và Điều 299 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người nêu trên theo thủ tục chung.
Tại phiên tòa, bị cáo Trương Minh H đã khai nhận về hành vi mà bị cáo đã thực hiện đúng với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 06 giờ 40 phút ngày 11/01/2021, bị cáo Trương Minh H đã lợi dụng sự sơ hở và chủ quan của bị hại khi để xe đạp điện không có người trông coi và quên lấy chìa khóa xe. Bị cáo H đã lén lúc lấy trộm 01 xe đạp điện nhãn hiệu Bomelli N22 màu xanh dương, số sê-ri sườn 60898, số sê-ri mô tơ 206477 và 01 xe đạp kiểu dáng giống xe Martin màu bạc của bị hại Trần Huy Đ. Khi bị cáo H chạy tẩu thoát thì bị lực lượng dân phòng xã T, thành phố Mỹ Tho bắt giữ cùng tang. Xe đạp điện nêu trên có giá trị là 6.800.000 đồng. Hành vi của bị cáo H đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định: “Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.0000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho đã đưa ra chứng cứ buộc tội
- 4 -
và truy tố bị cáo H về tội phạm nêu trên là có căn cứ và phù hợp với quy định pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo H đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật Nhà nước ta bảo vệ, hành vi đó không chỉ làm thiệt hại đến tài sản của người khác, mà còn gây hoang mang làm cho nhân dân không an tâm lao động, sản xuất, gây mất trật tự xã hội. Do vậy, cần phải có một hình phạt nghiêm khắc là cách ly các bị cáo ra khỏi xã một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục cho các bị cáo biết tôn trọng pháp luật và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cho bị cáo cần phải xem xét đến nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự cho bị cáo. [4] Về nhân thân của bị cáo Trương Minh H: Bị cáo không có tiền án, có 02 tiền sự gồm: Ngày 24/11/2020, bị cáo bị Công an phường 8, thành phố Mỹ Tho ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 750.000 đồng về hành vi đánh Nguyễn Thị Hoàng N xảy ra ngày 22/11/2020, bị cáo H đã nhận được Quyết định xử phạt nhưng chưa đóng phạt; Ngày 27/11/2020, bị cáo bị Công an phường 3, thành phố Mỹ Tho ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 750.000 đồng về hành vi đánh Nguyễn Thị Hoàng N xảy ra ngày 27/11/2020, bị cáo H đã nhận được Quyết định xử phạt nhưng chưa đóng phạt. Ngoài ra, vào ngày 20/11/2007, bị cáo bị Ủy ban nhân dân thành phố Mỹ Tho, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, thời gian 12 tháng về hành vi gây rối trật tự công cộng, chấp hành xong ngày 02/9/2008; Ngày 04/02/2021, bị cáo H bị Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” xảy ra ngày 02/8/2020 (Bản án số 09/2021/HSST). Hội đồng xét xử nhận định bị cáo Trương Minh H có nhân thân xấu, bị cáo không có ý thức tôn trọng pháp luật và tu dưỡng bản thân. [5] Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo H đã thật thà khai báo, ăn năn hối cải Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo theo quy định điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tình tiết tăng nặng: Không có. [6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài bị mất trộm và không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét. [7] Về vật chứng vụ án: Trong trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Mỹ Tho đã trao trả xe đạp điện cho bị hại Trần Huy Đ. Hiện anh Đ đã nhận lại xe và không yêu cầu bồi thường gì thêm. Đối với xe đạp mà bị cáo H sử dụng là của ông Trương Văn H1 (cha ruột H). Khi bị cáo H sử dụng xe làm phương tiện phạm tội ông H1 không biết nên Cơ quan điều tra đã trao trả lại xe cho ông H1. Việc xử lý vật chứng phù hợp với quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
- 5 -
Lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về mức hình phạt là có căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên.
Về án phí: Bị cáo H phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Trương Minh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 và khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Trương Minh H 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 11 tháng 01 năm 2021.
Căn cứ Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, tổng hợp hình phạt với Bản án số 09/2021/HS-ST ngày 04-02-2021 của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang. Bị cáo Trương Minh H phải chấp hành hình phạt chung là 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 11 tháng 01 năm 2021.
Về vật chứng: Căn cứ Điều 46 và Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Mỹ Tho đã trao trả xe đạp điện cho bị hại Trần Huy Đ.
Ghi nhân Cơ quan điều tra công an thành phỗ Mỹ Tho đã trao trả lại xe đạp cho ông Trương Văn H1.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Trương Minh H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Riêng bị hại vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Sở Tư pháp tỉnh Tiền Giang; - VKSND Tp Mỹ Tho; - Công an Tp Mỹ Tho; - C.c THADS Tp Mỹ Tho; - Bộ phận thi hành án hình sự; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, án văn. | MAI THỊ MỸ TRANG |