- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố: Bị cáo Phạm Hoàng Thành Nh phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN TP. ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2021/HS-ST Ngày: 21 -9- 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN- TP. ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Mai Văn Ba
Ông Huỳnh Bá Dương
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Bích Hậu- Thư ký Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, TP.Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai, vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 32/2021/TLST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2021/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2021 và Thông báo về việc hoãn phiên tòa số 06/TB-TA ngày 26/8/2021 đối với bị cáo:
Phạm Hoàng Thành Nh ; Sinh ngày: 17/10/1992 tại TP Đà Nẵng.
HKTT: Tổ 26, phường A, quận Sơn Trà, TP. Đà Nẵng.
Chỗ ở: Tổ 26, phường A, quận Sơn Trà, TP. Đà Nẵng.
Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Phạm Đ (chết) và bà Huỳnh Thị Xuân H(còn sống); Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Không.
Bị cáo hiện đang tại ngoại - Có mặt tại phiên tòa
* Người bị hại: 1/ Bà Đặng Thị Tuyết Nh, sinh năm: 1981.(vắng mặt)
2/ Ông Huỳnh Thanh H, sinh năm: 1978.(vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Số 07 đường P, phường K, quận Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/Ông Phạm Hoàng Thanh Nh, sinh năm: 1989 (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ 26, phường A, quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng.
2/Bà Ngô Thị S, sinh năm: 1958.(vắng mặt)
Địa chỉ: Số 94 đường V, tổ 51, phường N, quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng.
* Người làm chứng: Ông Huỳnh Thanh Ho, sinh năm 1988 (vắng mặt)
Trú tại: Tổ 21, phường A, quận Sơn Trà, TP. Đà Nẵng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng đầu tháng 6/2019, Phạm Hoàng Thành Nh được anh Huỳnh Thanh Ho (Sinh năm: 1988, trú: Tổ 21, phường A, quận Sơn Trà, TP. Đà Nẵng) thuê làm thợ sơn ngôi nhà đang xây tại số 07 đường P, phường K, quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng của gia đình anh Huỳnh Thanh H(Sinh năm: 1978) và chị Đặng Thị Tuyết Nh (Sinh năm: 1981, cùng trú tại: Tổ 30, phường A, quận Sơn Trà, TP. Đà Nẵng). Khi làm việc, Phạm Hoàng Thành Nh thấy một số tài sản của gia đình chị Nh dùng để hoàn thiện ngôi nhà nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.
Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 24/6/2019, Phạm Hoàng Thành Nh sử dụng xe mô tô mượn của bạn (không nhớ nhân thân, lai lịch, không nhớ BKS) đến ngôi nhà số 07 đường P dùng 02 thanh sắt loại phi 12, dài khoảng 30 cm ở phía sau ngôi nhà đang xây để phá khóa cửa phía sau, lấy trộm tài sản gồm: 01 nồi hương bằng kim loại đồng cao 20 cm rộng 15 cm; 01 nồi hương bằng kim loại đồng cao 10 cm rộng 15 cm; 02 chân đèn bằng kim loại đồng cao 50 cm rộng 15 cm; 01 bình bông bằng kim loại đồng cao 25 cm rộng 15 cm; 01 bình bông bằng kim lọai đồng cao 20 cm rộng 10 cm; 01 đĩa bằng kim loại đồng cao 10 cm rộng 20 cm; 02 ly bằng kim loại đồng cao 10 cm; 02 chân đèn bằng kim loại đồng cao 15 cm rộng 5 cm bỏ vào 01 bao tải. Nhân tiếp tục lấy trộm các tài sản: 01 cây sen tắm bằng kim loại; 01 vòi lạnh 1102; 01 vòi RC; 01 thanh vắt khăn; 01 móc áo 7220; 01 kệ hai ly đàn đá; 01 thoát sàn 12; 01 thoát la bô; 01 van T; 01 vòi xịt mạ bỏ vào 01 bao tải rồi chở về phòng trọ của mình tại phường Nại Hiên Đông, quận Sơn Trà, TP. Đà Nẵng (không nhớ rõ địa chỉ) cất giấu.
Sau đó, Phạm Hoàng Thành Nh đem 01 bao tải bên trong có: 02 bình bông bằng kim loại đồng; 04 chân đèn bằng kim loại đồng; 02 nồi hương bằng kim loại đồng; 01 đĩa bằng kim loại đồng; 02 ly kim loại đồng đến tiệm phế liệu của bà Ngô Thị S (sinh năm: 1958, địa chỉ: Số 94 đường V, phường N, quận Sơn Trà, TP. Đà Nẵng) bán với giá 1.300.000 đồng. Đến ngày 25/6/2019, Nh tiếp tục mang các tài sản trộm cắp được còn lại để trong bao tải là: 01 cây sen tắm bằng kim loại; 01 vòi lạnh 1102; 01 vòi RC; 01 thanh vắt khăn; 01 móc áo 7220; 01 kệ hai ly đàn đá; 01 thoát sàn 12; 01 thoát la bô; 01 van T; 01 vòi xịt mạ đến một ngôi nhà ở kiệt đường Ng, TP. Đà Nẵng (không nhớ rõ địa chỉ) bán với giá 1.700.000 đồng. Số tiền bán tài sản trộm cắp, Nh tiêu xài cá nhân hết.
Đến ngày 28/6/2019, Phạm Hoàng Thành Nh cùng anh Huỳnh Thanh Ho đến điểm thu mua phế liệu của bà Ngô Thị S chuộc lại số tài sản khác bị trộm cắp với số tiền 1.500.000 đồng. Cùng ngày này, Nh và anh Huỳnh Thanh Ho đến ngôi nhà đang xây ở kiệt đường Ng, TP. Đà Nẵng chuộc lại số tài sản bị trộm cắp với số tiền 1.500.000 đồng. Sau đó, Nh bỏ đi Hà Nội làm ăn.
Sau khi xảy ra vụ việc, đại diện gia đình Phạm Hoàng Thành Nh đã trả lại số tiền chuộc tài sản cho gia đình chị Nh là 3.000.000 đồng. Do số tài sản trộm cắp đã được lắp đặt, sử dụng nên công an phường K, quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng lập biên bản ghi nhận sự việc và bàn giao toàn bộ số tài sản bị mất cho gia đình chị Nh quản lý.
Tài sản bị mất gồm:
- 01 bình bông bằng kim loại đồng cao 25 cm rộng 15 cm;
- 01 bình bông bằng kim loại đồng cao 20 cm rộng 10 cm;
- 02 chân đèn bằng kim loại đồng cao 50 cm rộng 15 cm;
- 02 chân đèn bằng kim loại đồng cao 15 cm rộng 5 cm;
- 01 nồi hương bằng kim loại đồng cao 20cm rộng 15 cm;
- 01 nồi hương bằng kim loại đồng cao 10 cm rộng 15 cm;
- 01 đĩa bằng kim loại đồng cao 10 cm rộng 20 cm;
- 02 ly đựng nước bằng kim loại đồng cao 10 cm;
- 01 sen tắm bằng kim loại;
- 01 vòi lạnh 1102;
- 01 vòi RC;
- 01 thanh vắt khăn bằng inox;
- 01 móc áo 7220;
- 01 kệ ly đàn đá;
- 01 thoát sàn 12;
- 01 thoát la bô;
- 01 van T;
- 01 vòi xịt mạ;
* Tang vật, tài sản tạm giữ: 01 USB chứa dữ liệu hình ảnh đối tượng thực hiện hành vi phạm tội (lưu cùng hồ sơ gốc của vụ án – BL: 70)
* Theo Bản kết luận định giá tài sản số: 61/KLĐG-HĐĐGTS ngày 16/9/2019 của Hội đồng ĐGTS trong TTHS quận Ngũ Hành Sơn kết luận: 02 nồi hương bằng kim loại đồng có giá trị 1.500.000 đồng; 02 chân đèn bàn thờ bằng kim loại đồng có giá trị 3.000.000 đồng; 01 cây sen tắm có giá trị 1.800.000 đồng; 02 vòi nước rửa tay có giá trị. 800.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 7.100.000 đồng.
* Theo Bản kết luận định giá tài sản số 03/KLĐG-HĐĐGTS ngày 14/01/2020 của Hội đồng ĐGTS trong TTHS quận Ngũ Hành Sơn kết luận: 01 bình bông bằng kim loại đồng cao 25cm, rộng 15cm có giá trị 220.000 đồng; 01 bình bông cao 20 cm rộng 10 cm có giá trị 200.000 đồng; 01 đĩa bằng kim loại đồng cao 10 cm rộng 20 cm có giá trị 150.000 đồng; 02 ly đựng nước bằng kim loại đồng cao 10 cm có giá trị 160.000 đồng; 02 chân đèn bằng kim loại đồng cao 15 cm rộng 05 cm có giá trị 370.000 đồng; 01 thanh vắt khăn có giá trị 120.000 đồng; 01 móc áo 7220 có giá trị 150.000 đồng; 01 kệ 2 ly đàn đá có giá trị 200.000 đồng; 01 thoát sàn 12 có giá trị 130.000 đồng; 01 thoát la bô có giá trị 130.000 đồng; 01 van T có giá trị 50.000 đồng; 01 vòi xịt mạ có giá trị 120.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 2.000.000 đồng.
*Về dân sự: Trong quá trình điều tra, bị hại là chị Đặng Thị Tuyết Nh và anh Huỳnh Thanh H đã nhận lại đầy đủ tài sản, gia đình bị cáo đã bồi thường số tiền 3.000.000 đồng. Sau khi nhận đủ số tiền bồi thường, bị hại có đơn không yêu cầu giải quyết vụ việc, không yêu cầu bồi thường dân sự và xin bãi nại cho bị cáo.
Quá trình điều tra bị cáo Phạm Hoàng Thành Nh đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau:
Do muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên vào khoảng 20 giờ 00 phút ngày 24/6/2019, Phạm Hoàng Thành Nh có hành vi lén lút trộm cắp tài sản gồm: 02 bình bông bằng kim loại đồng; 04 chân đèn bằng kim loại đồng; 02 nồi hương bằng kim loại đồng; 01 đĩa bằng kim loại đồng; 02 ly bằng kim loại đồng; 01 cây sen tắm bằng kim loại; 01 vòi lạnh 1102; 01 vòi RC; 01 thanh vắt khăn; 01 móc áo 7220; 01 kệ hai ly đàn đá; 01 thoát sàn 12; 01 thoát la bô; 01 van T; 01 vòi xịt mạ của gia đình anh Huỳnh Thanh H và chị Đặng Thị Tuyết Nh tại địa chỉ số 07 đường P, phường K, quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng. Tổng trị giá tài sản mà Phạm Hoàng Thành Nh đã trộm cắp là 9.100.000 đồng.
Với nội dung trên tại bản Cáo trạng số 31/CT-VKS-NHS, ngày 02/7/2021 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Phạm Hoàng Thành Nh về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Hoàng Thành Nh phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b,i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Hoàng Thành Nh mức án từ 09 đến 12 tháng tù.Thời gian thụ hình tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự; vật chứng và trách nhiệm của những người liên quan: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Về phần dân sự: Chị Đặng Thị Tuyết Nh và anh Huỳnh Thanh H đã nhận lại đầy đủ tài sản(theo Biên bản làm việc ngày 28/6/2019- BL 50), gia đình bị cáo đã bồi thường số tiền 3.000.000 đồng. Bị hại có đơn không yêu cầu giải quyết vụ việc, không yêu cầu bồi thường dân sự và xin bãi nại cho bị cáo nên không đề cập giải quyết.
- Đối với bà Ngô Thị S là người đã mua tài sản trộm cắp của Phạm Hoàng Thành Nh nhưng không biết tài sản đó do Nhân trộm cắp mà có nên Cơ quan CSĐT – Công an quận Ngũ Hành Sơn không đề cập đến.
- Đối với người mua tài sản của Phạm Hoàng Thành Nh tại ngôi nhà kiệt N, TP. Đà Nẵng. Hiện chưa xác minh được nhân thân, lai lịch. Cơ quan Cơ quan CSĐT – Công an quận Ngũ Hành Sơn xác minh, xử lý sau.
- Đối với xe mô tô mà Phạm Hoàng Thành Nh sử dụng làm phương tiện để đi trộm cắp và bán tài sản trộm cắp nhưng Nh không nhớ mượn của ai, không nhớ BKS nên Cơ quan CSĐT – Công an quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng không có cơ sở xác minh nên không đề cập đến.
- Đối với 02 thanh sắt phi 12, dài 30 cm; 02 bao tải, Phạm Hoàng Thành Nh sử dụng làm công cụ phương tiện phạm tội, Nh đã vứt đi, không nhớ rõ địa điểm nên không đề cập đến.
- Đối với 01 USB ghi lại diễn biến vụ trộm cắp tài sản xảy ra ngày 24/6/2019, tại số nhà 07 đường P, phường K, quận Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng là vật chứng của vụ án. Cần tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án là phù hợp.
Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Những người tham gia phiên tòa không có ý kiến gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Tại phiên tòa người bị hại ông Huỳnh Thanh H, bà Đặng Thị Tuyết Nh; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Hoàng Thanh N, bà Ngô Thị S; người làm chứng ông Huỳnh Thanh Ho đã được Tòa án triệu tập nhưng vắng mặt không có lý do nhưng trong hồ sơ vụ án đã có lời khai của ông H, bà Nh, ông N, bà S, ông Ho. Do đó, sự vắng mặt của ông H, bà Nh, ông N, bà S, ông Ho không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 292,293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.
Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo; người bị hại; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung:
Tại phiên tòa bị cáo Phạm Hoàng Thành Nh khai nhận hành vi phạm tội, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:
Do muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên vào khoảng 20 giờ 00 phút ngày 24/6/2019, Phạm Hoàng Thành Nh có hành vi lén lút trộm cắp tài sản gồm: 02 bình bông bằng kim loại đồng; 04 chân đèn bằng kim loại đồng; 02 nồi hương bằng kim loại đồng; 01 đĩa bằng kim loại đồng; 02 ly bằng kim loại đồng; 01 cây sen tắm bằng kim loại; 01 vòi lạnh 1102; 01 vòi RC; 01 thanh vắt khăn; 01 móc áo 7220; 01 kệ hai ly đàn đá; 01 thoát sàn 12; 01 thoát la bô; 01 van T; 01 vòi xịt mạ của gia đình anh Huỳnh Thanh H và chị Đặng Thị Tuyết Nh tại địa chỉ số 07 đường P, phường K, quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng. Tổng trị giá tài sản mà Phạm Hoàng Thành Nh đã trộm cắp là 9.100.000 đồng.
Hành vi trên của bị cáo Phạm Hoàng Thành Nh đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản ” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như Cáo trạng số 31/CT-VKS-NHS, ngày 02/7/2021 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo Phạm Hoàng Thành Nh thì thấy:
Bị cáo là người có tuổi đời còn trẻ, lẽ ra bị cáo phải lo lao động, tu dưỡng, rèn luyện bản thân để trở thành công dân có ích cho xã hội, nhưng bị cáo coi thường pháp luật, chỉ muốn có tiền nhanh chóng để thỏa mãn mục đích cá nhân bằng đồng tiền lao động của người khác, bị cáo Nh đã lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của người bị hại để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản; bị cáo đã lấy tài sản có tổng giá trị 9.100.000đ của vợ chồng chị Nh, anh H.
Hành vi của bị cáo Phạm Hoàng Thành Nh đã xâm hại quyền sở hữu của người khác về tài sản được pháp luật bảo vệ, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội được quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do tính chất vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những gây thiệt hại về tài sản cho người bị hại mà còn làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an ninh ở địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với hành vi nhằm giáo dục đối với bị cáo đồng thời răn đe các đối tượng khác có hành vi tương tự.
Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ của bị cáo:
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo Phạm Hoàng Thành Nh đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho người bị hại nghĩ nên áp dụng điểm b, i,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo. Bị cáo còn có đơn xin bãi nại hình phạt của người bị hại; gia đình bị cáo Nh có hoàn cảnh kinh tế khó khăn; sau khi phạm tội thì bị cáo có tham gia hoạt động cộng đồng trong công tác phòng chống dịch bệnh Covid tại địa phương nơi bị cáo cư trú nên cần áp dụng tình tiết được quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt khi lượng hình.
Nhận thấy nhân thân bị cáo tốt; bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội. Do đó cần áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, thể hiện tính chất nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.
Xét về trách nhiệm dân sự: Chị Đặng Thị Tuyết Nh và anh Huỳnh Thanh H đã nhận lại đầy đủ tài sản (theo Biên bản làm việc ngày 28/6/2019- BL 50), gia đình bị cáo đã bồi thường số tiền 3.000.000 đồng. Sau khi nhận lại tài sản và được bồi thường người bị hại không yêu cầu bồi thường gì nên HĐXX không đề cập đến.
Xét về trách nhiệm của những người có liên quan:
- Đối với bà Ngô Thị S là người đã mua tài sản trộm cắp của Phạm Hoàng Thành Nh nhưng không biết tài sản đó do Nh trộm cắp mà có nên Cơ quan CSĐT – Công an quận Ngũ Hành Sơn không đề cập đến là phù hợp.
- Đối với người mua tài sản của Phạm Hoàng Thành Nh tại ngôi nhà kiệt N, TP. Đà Nẵng. Hiện chưa xác minh được nhân thân, lai lịch. Cơ quan Cơ quan CSĐT – Công an quận Ngũ Hành Sơn xác minh, xử lý sau là phù hợp.
Xét về vật chứng:
- Đối với tài sản trộm cắp gồm: 02 bình bông bằng kim loại đồng; 04 chân đèn bằng kim loại đồng; 02 nồi hương bằng kim loại đồng; 01 đĩa bằng kim loại đồng; 02 ly bằng kim loại đồng; 01 cây sen tắm bằng kim loại; 01 vòi lạnh 1102; 01 vòi RC; 01 thanh vắt khăn; 01 móc áo 7220; 01 kệ hai ly đàn đá; 01 thoát sàn 12; 01 thoát la bô; 01 van T; 01 vòi xịt mạ gia đình anh Huỳnh Thanh H và chị Đặng Thị Tuyết Nh đã nhận lại(theo Biên bản làm việc ngày 28/6/2019- BL 50) nên không đề cập đến là phù hợp.
- Đối với 01 USB ghi lại diễn biến vụ trộm cắp tài sản xảy ra ngày 24/6/2019, tại số nhà 07 đường P, phường K, quận Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng là vật chứng của vụ án. Cần tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án là phù hợp.
- Đối với 02 thanh sắt phi 12, dài 30 cm; 02 bao tải, Phạm Hoàng Thành Nh sử dụng làm công cụ phương tiện phạm tội, Nh đã vứt đi, không nhớ rõ địa điểm nên không đề cập đến.
- Đối với xe mô tô mà Phạm Hoàng Thành Nh sử dụng làm phương tiện để đi trộm cắp và bán tài sản trộm cắp nhưng Nh không nhớ mượn của ai, không nhớ BKS nên Cơ quan CSĐT – Công an quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng không có cơ sở xác minh nên không đề cập đến.
Hội đồng xét xử thấy lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn tại phiên tòa về căn cứ các điều luật áp dụng cũng như đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Phạm Hoàng Thành Nh là có cơ sở nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi lượng hình.
Án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo Phạm Hoàng Thành Nh phải chịu 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b,i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
[1] Tuyên bố: Bị cáo Phạm Hoàng Thành Nh phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Hoàng Thành Nh 12 tháng (mười hai tháng) tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Giao bị cáo cho UBND phường A, quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng giám sát giáo dục trong thời gian thử thách án treo. Trong trường hợp bị cáo Phạm Hoàng Thành Nh thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
[2] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tuyên tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án 01 USB ghi lại diễn biến vụ trộm cắp tài sản xảy ra ngày 24/6/2019, tại số nhà 07 đường P, phường K, quận Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng là vật chứng của vụ án.
Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Phạm Hoàng Thành Nh phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.
Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo Phạm Hoàng Thành Nh biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 21/9/2021.
Riêng người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao án hợp lệ.
(Bị cáo đã được giải thích các quy định về án treo)
| Nơi nhận: - VKSND quận Ngũ Hành Sơn; - VKSND thành phố Đà Nẵng; - Công an quận Ngũ Hành Sơn; - Chi cục THA quận Ngũ Hành Sơn; - Bị cáo; bị hại; -Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thanh Nga |