- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dang Dinh D pham toi Trom cap TS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đặng Đình Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2021/HS-ST Ngày: 08 - 4 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Trọng và ông Nguyễn Ngọc Quý
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hòa – Kiểm sát viên.
Ngày 08/4/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 29/2021/TLST-HS ngày 19/3/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2021/QĐXXST-HS ngày 25/3/2021 đối với bị cáo:
Đặng Đình Đ, sinh năm 1977; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT và cư trú: Đội A, thôn B, xã C, huyện M, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Con ông: Đặng Đình T (đã chết), con bà: Tạ Thị Th, sinh năm 1948; Vợ: Lê Thị Thu H (đã ly hôn); Vợ: Nguyễn Thị T và có 02 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2020; Danh chỉ bản số 669 do Công an huyện Chương Mỹ lập ngày 07/12/2020;
Nhân thân: - Ngày 17/12/2007 Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội ra Quyết định số 2877/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy thời hạn 24 tháng kể từ ngày 05/12/2007. Giấy chứng nhận đã cai nghiện ma túy số 298/CN- GDLĐXH- VI ngày 05/12/2009 của Trung tâm giáo dục lao động xã hội số VI (đã xóa).
- Bản án số 43/HSST ngày 16/12/2003, Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ra trại ngày 30/8/2004 (đã xóa án tích).
- Bản án số 89/HSST ngày 15/11/2013, Tòa án nhân dân huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội xử phạt 32 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ra trại ngày 30/11/2015 (đã xóa án tích).
Tạm giữ, tạm giam: Không.
Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
* Bị hại:
* Đền K; Địa chỉ: Thôn A, xã B, huyện M, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Huy C – sinh năm 1957; Địa chỉ: Đội A, thôn B, xã C, huyện M, thành phố Hà Nội. Có đơn xin xử vắng mặt.
* Ông Nguyễn Khả T – sinh năm 1964; Địa chỉ: Thôn A, xã B, huyện M, thành phố Hà Nội. Có đơn xin xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án thể hiện Đặng Đình Đ đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản như sau:
Khoảng 0 giờ 30 phút, ngày 05/8/2020, Đặng Đình Đ đi bộ vào khu dân cư xã B, huyện M, thành phố Hà Nội để quan sát xem nhà nào có tài sản sơ hở để trộm cắp. Khi đi đến trước cửa Đền K (thuộc quyền quản lý của nhân dân thôn A, xã B, huyện M, thành phố Hà Nội) thấy cổng và cửa Đền K khóa, không có người trông coi bảo vệ tài sản, Đ nảy sinh ý định đột nhập vào trong Đền K trộm cắp. Lúc này, Đ phát hiện gia đình ông Nguyễn Khả T cách Đền K 20 mét đang xây dựng, không có người trông coi. Đ vào bên trong lấy trộm 01 chiếc xà cầy bằng sắt, kích thước dài 76 cm và 01 chiếc máy cắt gạch. Sau đó, Đ trèo tường vào sân Đền K, dùng cây xà cầy cạy phá khóa cửa Đ vào bên trong lấy trộm tài sản gồm: 01 máy bơm nước màu đỏ đen, nhãn hiệu ROLLSTAL; 01 đầu đĩa DVD – 313, nhãn hiệu SONICSON, màu đen; 01 đầu phát tín hiệu của Micro, không dây, nhãn hiệu SHURE, màu đen; 01 âm ly nhãn hiệu SUNVI, màu vàng đồng; 01 chiếc cặp nhựa, nhãn hiệu SHURE; 02 Micro, nhãn hiệu D80; 22 chiếc đĩa hát DVD; 01 đỉnh bằng kim loại đồng; 02 cây nến bằng kim loại đồng; 02 con hạc bằng kim loại đồng. Sau khi trộm cắp tài sản xong, Đ để số tài sản vừa lấy ở cửa Đền K rồi đi về nhà lấy xe máy không có biển kiểm soát, không rõ nhãn hiệu, không rõ số khung, không rõ số máy đi đến Đền K chở số tài sản vừa trộm cắp được mang về nhà cất giấu. Đến khoảng 7 giờ 30 phút, ngày 05/8/2020, ông Nguyễn Huy C là Thủ từ Đền K phát hiện cửa Đền bị kẻ gian cạy khóa và trộm cắp một số tài sản trong Đền. Sau đó, ông Chắt đến Công an xã B trình báo. Qua rà soát camera, xác định người trong clip có đặc điểm giống Đặng Đình Đ. Công an xã B, huyện M, thành phố Hà Nội tiến hành kiểm tra hành chính tại nhà ở của Đ thì phát hiện số tài sản Đ đang cất giấu tại nhà là tài sản của Đền K và tài sản của gia đình ông Nguyễn Khả T bị trộm cắp. Công an xã B đã tạm giữ số tài sản trên và triệu tập Đặng Đình Đ đến trụ sở để làm việc. Tại Công an xã B, huyện M, thành phố Hà Nội, Đặng Đình Đ đã đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.
Vật chứng thu giữ:
* Tài sản của Đền K:
- 01 máy bơm nước màu đỏ đen, nhãn hiệu ROLLSTAL, đường kính thân 13 cm, dài 24 cm, rộng 14 cm (đã qua sử dụng);
- 01 đầu đĩa DVD – 313, nhãn hiệu SONICSON, màu đen mặt điều khiển màu trắng, kích thước (43x23x4) cm (đã qua sử dụng);
- 01 đầu phát tín hiệu của Micro, không dây, nhãn hiệu SHURE, màu đen, kích thước (42x21x4) cm (đã qua sử dụng);
- 01 âm ly nhãn hiệu SUNVI, màu vàng đồng, kích thước (42x33x12) cm (đã qua sử dụng);
- 01 chiếc cặp nhựa, nhãn hiệu SHURE, kích thước (51x30x13)cm (đã qua sử dụng);
- 02 Micro, nhãn hiệu D800 (đã qua sử dụng);
- 22 chiếc đĩa hát DVD (đã qua sử dụng);
- 01 Đỉnh đồng bằng kim loại đồng có trọng lượng 13, 2 kg (Thân có trọng lượng 11,1 kg, đế có trọng lượng: 2,1 kg);
- 02 cây nến bằng kim loại đồng tổng trọng lượng 6,4 kg (Trọng lượng 3,2 kg/01 cây);
- 02 con hạc bằng kim loại đồng tổng trọng lượng 6,8 kg (Trọng lượng 3,4 kg/01 con);
* Tài sản gia đình ông Nguyễn Khả T:
- 01 máy cắt gạch tự chế bằng kim loại sắt, trọng lượng 15,7 kg;
- 01 chiếc xà cầy bằng kim loại sắt, màu đen, dài 76 cm. Một đầu cong bẹt, tẽ đôi; 01 đầu tròn, đường kính 2 cm.
* Thu của Đặng Đình Đ: 01 (Một) xe máy không rõ BKS, không rõ nhãn hiệu, không rõ số khung, không rõ số máy, xe đã cũ nát.
Tại Kết luận định giá tài sản số 152/KL-HĐĐG ngày 07/8/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Chương Mỹ, kết luận:
“1 - 01 (Một) máy bơm nước mầu đỏ, đen đã cũ, nhãn hiệu ROLLSTAL, đường kính thân 13 cm, dài 24 cm, rộng 14 cm. Có giá là: 300.000 đồng
2 - 01 (Một) đầu đĩa DVD – 313, nhãn hiệu SONICSON, màu đen, đã cũ, mặt điều khiển mầu trắng, kích thước 43x23x4 cm. Có giá là: 50.000 đồng;
3 - 01 (Một) đầu thu phát tín hiệu của micro không dây, nhãn hiệu SHURE, mầu đen, kích thước (42x21x4) cm đã qua sử dụng. Có giá là: 200.000 đồng;
4 - 01 (Một) âm ly nhãn hiệu SUNVI, mầu vàng đồng, kích thước (42x33x12) cm đã qua sử dụng. Có giá là: 200.000 đồng;
5 - 01 (Một) chiếc cặp nhựa, nhãn hiệu SHURE, kích thước (51x30x13) cm, đã qua sử dụng. Có giá là: 50.000 đồng;
6 - 02 (Hai) micro, nhãn hiệu D800, đã qua sử dụng. Có giá là: 100.000 đồng;
7 - 22 (Hai hai) chiếc đĩa hát DVD, đã qua sử dụng. Có giá là: 22.000 đồng;
Tổng giá trị (1+2+3+4+5+6+7): 922.000 đồng.”
Tại Kết luận định giá tài sản số 202/KL-HĐĐG ngày 20/10/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Chương Mỹ, kết luận:
“1 - 01 (Một) Đỉnh đồng bằng kim loại đồng, trọng lượng 13, 2 kg. Có trị giá là: 13,2 kg x 300.000 đồng = 3.960.000 đồng;
2 - 02 (Hai) cây nến bằng kim loại đồng, trọng lượng mỗi cây 3,2 kg, tổng trọng lượng 2 cây là 6,4 kg. Có trị giá là: 6,4 kg x 300.000 đồng = 1.920.000 đồng;
3 - 02 (Hai) con hạc bằng kim loại đồng, trọng lượng mỗi con 3,4 kg, tổng 2 con là 6,8 kg. Có trị giá là: 6,8 kg x 300.000 đồng = 2.040.000 đồng;
4 - 01 (Một) máy cắt gạch tự chế, bằng kim loại sắt. Trọng lượng 15,7 kg. Có trị giá là: 15,7 kg x 10.000 đồng = 157.000 đồng;
Tổng giá trị (1+2+3+4): 8.077.000 đồng.”
Tại Kết luận định giá tài sản số 240/KL-HĐĐG ngày 17/12/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Chương Mỹ, kết luận:
“1 - 01 (Một) xà cầy bằng sắt dài 01 mét, một đầu vuông góc, trọng lượng 1,5 kg. Có trị giá là: 1,5 kg x 10.000 đồng/kg = 15.000 đồng.”
Tổng số tài sản Đặng Đình Đ đã trộm cắp có giá trị là: 922.000 đồng + 8.077.000 đồng + 15.000 đồng = 9.014.000 đồng (Chín triệu không trăm mười bốn nghìn đồng).
* Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra xác định tài sản Đặng Đình Đ đã trộm cắp là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của gia đình ông Nguyễn Khả T và tài sản của Đền K. Ngày 08/9/2020, Công an huyện Chương Mỹ đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại tài sản cho gia đình ông Nguyễn Khả T và Đền K. Ông Nguyễn Khả T và ông Nguyễn Huy C (đại diện của Đền K) đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Đối với chiếc xe mô tô không có biển kiểm soát, không rõ nhãn hiệu, không rõ số khung, không rõ số máy, xe đã cũ nát là phương tiện Đặng Đình Đ sử dụng để phạm tội, Đ khai nguồn gốc chiếc xe là Đ mua của một người phụ nữ không quen biết thu mua sắt vụn trên địa bàn huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội. Cơ quan điều tra không đủ cơ sở để xác minh làm rõ nguồn gốc chiếc xe trên.
Tại Bản Cáo trạng số 26/CT-VKS ngày 28/02/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố Đặng Đình Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo Đặng Đình Đ đã khai nhận và thừa nhận toàn bộ thực hiện hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng truy tố.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Đ. Đề nghị tuyên bố bị cáo Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; s (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải) theo khoản 1, khoản 2 (đầu thú) Điều 51 Bộ luật hình sự; phạt bị cáo Định từ 15 đến 18 tháng tù. Do bị cáo không có việc làm, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị hại không yêu cầu giải quyết nên không đề nghị xem xét.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô không có biển kiểm soát, không rõ nhãn hiệu, không rõ số khung, không rõ số máy.
Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng:
[1.1] Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; cơ quan truy tố; hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về: Khởi tố vụ án, khởi tố bị can, phê chuẩn quyết định khởi tố bị can; về các biện pháp điều tra như lấy lời khai bị can, lấy lời khai bị hại, xác định hiện trường vụ án, truy tìm vật chứng vụ án, trưng cầu định giá tài sản, xác minh lý lịch, nhân thân của bị can; về việc giao nhận các văn bản tố tụng cho bị can, bị hại. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại đều không khiếu nại về việc: Bị Điều tra viên, Kiểm sát viên mớm cung, ép cung, bức cung, nhục hình, các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Các tài liệu điều tra có trong hồ sơ vụ án được thu thập đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên là chứng cứ của vụ án.
Về sự vắng mặt của bị hại – Ông Nguyễn Huy C, ông Nguyễn Khả T: Xét thấy ông C, ông T đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng có đơn xin vắng mặt; trong hồ sơ đã có đầy đủ lời khai, việc vắng mặt của ông C, ông T không làm ảnh hưởng đến việc xét xử bị cáo và giải quyết bồi thường dân sự, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông C, ông T theo quy định tại khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.
. Về nội dung:
Xét lời khai của bị cáo Đặng Đình Đ tại phiên tòa, thấy phù hợp với lời khai của bị hại, biên bản xác định hiện trường vụ án, kết luận định giá tài sản và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 00 giờ 30 phút, ngày 05/8/2020, tại thôn A, xã B, huyện M, thành phố Hà Nội, Đặng Đình Đ đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của gia đình ông Nguyễn Khả T trị giá: 172.000 đồng và tài sản của Đền K trị giá: 8.842.000 đồng. Số tài sản Đặng Đình Đ đã chiếm đoạt có tổng giá trị là 9.014.000 đồng. Do vậy, hành vi trộm cắp tài sản nêu trên của Đặng Đình Đ đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Cáo trạng số 26/CT-VKS-CM ngày 28/02/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố Đặng Đinh Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản, điều luật nói trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi trộm cắp của bị cáo Định là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nên buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội đã gây ra.
Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, bị cáo là người có nhân thân xấu: Bị cáo đã 2 lần bị xét xử về tội Trộm cắp tài sản, Tàng trữ trái phép chất ma túy và cũng đã 1 lần bị đưa đi cai nghiện bắt buộc. Như vậy, bị cáo đã bị sự trừng trị, dăn đe, giáo dục của pháp luật về các hành vi phạm tội, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tự cải tạo, ăn năn hối cải, thể hiện bị cáo rất coi thường pháp luật. Do vậy, phải áp dụng hình tù cách ly với xã hội một thời gian nhất định để có tác dụng giáo dục bị cáo.
Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: “Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại”; “Thành khẩn khai báo”; “đầu thú” được quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Do bị cáo không có thu nhập, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, nên không áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 08/9/2020, ông Nguyễn Huy C và ông Nguyễn Khả T đã nhận lại các tài sản bị mất và không có yêu cầu gì bồi thường, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng: 01 xe mô tô không có biển kiểm soát, không rõ nhãn hiệu, không rõ số khung, không rõ số máy do Đặng Đình Đ sử dụng làm phương tiện trộm cắp tài sản nên cần tịch thu nộp Ngân sách nhà nước.
Về nghĩa vụ chịu án phí: Bị cáo Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Đặng Đình Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, phạt:
Đặng Đình Đ 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
3. Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu nộp Ngân sách nhà nước 01 xe mô tô không có biển kiểm soát, không rõ nhãn hiệu, không rõ số khung, không rõ số máy.
(Số vật chứng, tình trạng vật chứng trên theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/3/2021, hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ).
4. Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc Đặng Đình Đ phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt vắng quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND TP. Hà Nội; - VKSND huyện Chương Mỹ; - Công an huyện Chương Mỹ; - CC THA dân sự huyện Chương Mỹ; - Sở Tư pháp thành phố Hà Nội; - Bị cáo; bị hại; - UBND nơi bị cáo cư trú; - Lưu: Hồ sơ, VT. THÀNH VIÊN HỘI DỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Tuyết Mai THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |