- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn B - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thị xã S, tỉnh Phú Yên – Sửa bản án sơ thẩm về hình phạt;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2021/HS-PT Ngày: 26/5/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Võ Nguyên Tùng;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Việt Hùng và ông Trần Minh Quang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Linh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Minh Tâm – Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 26 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 24/2021/TLPT-HS ngày 16 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo Nguyễn B, do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thị xã S đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 03/2021/HS-ST ngày 28 tháng 01 năm 2021 của Tòa án nhân dân thị xã S, tỉnh Phú Yên.
- Bị cáo bị kháng nghị: Nguyễn B (tên gọi khác: Dàng), sinh năm 1969; tại thị xã S, tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Thôn C, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Làm biển; trình độ văn hóa (học vấn): Không biết chữ; con ông Nguyễn H, sinh năm 1940 và bà Võ N, sinh năm 1945; có vợ Cao A, sinh năm 1974 và 04 con, lớn sinh năm 1993, nhỏ sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 28/11/1990, bị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xử phạt 18 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”; bị cáo tại ngoại; có mặt.
- Người bào chữa của bị cáo Nguyễn B do Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Phú Yên, cử: Ông Ngô Tấn Hải – Trợ giúp viên pháp lý; có mặt.
- Người bị hại: Nguyễn C, sinh năm 1982. Nơi cư trú: Thôn C, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 03/01/2020, Nguyễn B đến đường bê tông trước xưởng gỗ của anh Hà C, thuộc thôn C, xã X làm cái xóc bầu cua. Lúc này có Nguyễn C, Nguyễn T và Nguyễn V(anh em ruột) đứng xem. Do thua hết tiền nên B không chung tiền cho những người tham gia chơi, B định xô xát đánh nhau với những người chơi, thấy vậy V can ngăn thì B dùng tay đánh trúng vào vùng mặt của V nhưng không gây thương tích. B và V cãi nhau thì Nguyễn Thị Thanh H (con B) đến chửi mắng V, nên V dùng tay đánh một cái trúng vào vùng mặt của H nhưng không gây thương tích. Thấy H bị đánh B chạy vào xưởng gỗ của ông T cầm một cây xà beng rượt đuổi để đánh V, nên T nhặt lấy một đoạn cây gỗ dài khoảng 80cm đến hướng B hô la nhằm để B không rượt đuổi đánh V. H nghĩ T đánh B nên cầm một cái ghế tại xưởng gỗ ném về hướng T nhưng không trúng, T cầm một đoạn cây gỗ đánh một cái trúng vào vùng chân trái của H nhưng không gây thương tích. Thấy T đánh H nên C đến can ngăn, H tiếp tục hô la chửi mắng thì C đưa tay trái về phía H để khuyên can. B thấy C đứng gần H nghĩ C đánh H, nên B cầm cây xà beng chạy đến đánh trúng cẳng tay trái của C gây thương tích, tỷ lệ 16%; B tiếp tục rượt đuổi V chạy về hướng Quốc lộ 1A, thì bị V nhặt gạch chống trả.
Quá trình điều tra, xác định: B dùng số tiền 200.000 đồng làm cái xóc bầu cua thua hết 180.000 đồng.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 03/2021/HS-ST ngày 28/01/2021 của Tòa án nhân dân thị xã S đã tuyên bị cáo Nguyễn B phạm tội “Cố ý gây thương tích”; áp dụng Điểm đ, Khoản 2 Điều 134; Điểm b, s, Khoản 1, 2 Điều 51; Điều 54, Điều 65 của Bộ luật Hình sự; phạt bị cáo Nguyễn B 01 (Một) năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (Hai) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 08/02/2021, Viện kiểm sát nhân dân thị xã S kháng nghị một phần hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số: 03/2021/HS-ST ngày 28/01/2021 của Tòa án nhân dân thị xã S, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm vụ án theo hướng không áp dụng Điều 65 cho bị cáo Nguyễn B hưởng án treo.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn B, người bị hại đều khai về tình tiết vụ án diễn ra như nội dung bản án sơ thẩm đã tuyên.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điểm d, Khoản 2 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thị xã S, tỉnh Phú Yên, theo hướng sửa bản án sơ thẩm không cho bị cáo Nguyễn B hưởng án treo; phạt bị cáo Nguyễn B 01 năm tù.
Người bào chữa của bị cáo cho rằng, bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo, nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã S.
Trong phần tranh luận, Kiểm sát viên không thống nhất với đề nghị của người bào chữa; bị cáo xin Tòa cho hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Khoảng 20 giờ, ngày 03/01/2020 tại thôn C, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; Nguyễn B trực tiếp đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức xóc bầu cua, thì phát sinh mâu thuẫn dẫn đến xô xát với những người đứng xem, nhưng chưa ai bị thương tích; Nguyễn C lại khuyên ngăn con gái của B nhằm tránh sự việc đánh nhau, thì bị B cầm xà beng xông đến đánh gãy 02 xương cẳng tay trái của C gây thương tích, tỷ lệ 16%. Chỉ vì nghĩ người bị hại đánh con gái của mình, bị cáo đã sử dụng cây xà beng bằng sắt, cứng, chắc để gây án, là phạm tội thuộc trường hợp dùng hung khí nguy hiểm; tuy thương tích của người bị hại dưới 31%, nhưng bị cáo phạm tội với tình tiết định khung tăng nặng tại Điểm a, Khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Nên cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo Điểm đ, Khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.
Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thị xã S. Hội đồng xét xử, thấy: Bị cáo Nguyễn B là người đã từng bị kết án tù, tuy thời gian đương nhiên xóa án tích đã lâu và không bị coi là có án tích, nhưng không được xem là người có nhân thân tốt; mặt khác, trong vụ án này ngoài hành vi “Cố ý gây thương tích” bị xét xử về tội phạm nghiêm trọng, bị cáo Nguyễn B còn bị xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, nên không đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Do đó, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thị xã S, theo hướng không áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo Nguyễn B hưởng án treo, là có cơ sở chấp nhận.
Bị cáo Nguyễn B không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo hoặc kháng nghị cấp phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điểm d, Khoản 2 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thị xã S, tỉnh Phú Yên – Sửa bản án sơ thẩm về hình phạt;
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn B phạm tội “Cố ý gây thương tích”;
Áp dụng Điểm đ, Khoản 2 Điều 134; Điểm b, s, Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự;
Phạt: Bị cáo Nguyễn B – 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn B không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao Đà Nẵng (1); - TAND thị xã S(2); - VKSND thị xã S; - VKSND tỉnh Phú Yên (2); - Công an thị xã S; - Sở tư pháp (1); - Người tham gia tố tụng (1); - Lưu án văn (1); lưu hồ sơ (2). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Nguyên Tùng |