vanban.org

Bản án 36/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Bà Đào Thị A được ly hôn với ông Giáp Văn T.

Về án phí: Bà Đào Thị A phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu số 0011852 ngày 01 tháng 02 năm 2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai. Bà Đào Thị A đã nộp đủ án phí dân sự s… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Bà Đào Thị A được ly hôn với ông Giáp Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN IA GRAI
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2021/HNGĐ-ST
Ngày 30/11/2021
V/v:“Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Chí Công

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Tiết;

2. Bà Nguyễn Thị Lan.

Thư ký phiên tòa: Ông Vương Tấn Lập – Thư ký Toà án nhân dân huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Lê Đình Hợp - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 16/2021/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 02 năm 2021 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 10 năm 2021 giữa:

1. Nguyên đơn: Bà Đào Thị A

Địa chỉ: Làng B, xã Ia, huyện Ia G, tỉnh G (có mặt)

2. Bị đơn: Ông Giáp Văn T

Địa chỉ: Làng B, xã Ia, huyện Ia G, tỉnh G (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn bà Đào Thị A trình bày: Năm 2007 bà và ông Giáp Văn T tự nguyện tìm hiểu nhau rồi tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Mặc dù bà và ông T trở thành vợ, chồng trên cơ sở cảm yêu thương, nhưng khi về chung sống thì tính cách mỗi người một khác, vợ chồng không chung sống với nhau từ đầu năm 2018 cho đến nay, không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay thấy tình cảm vợ chồng đã hết, có chung sống với nhau cũng không hạnh phúc mà còn gây đau khổ cho nhau, các con đã trưởng thành và tự lập được nên không còn gì ràng buộc. Do vậy bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T để tạo dựng cuộc sống mới.

Về nuôi con khi ly hôn: Giữa bà với ông T có hai con là các cháu Giáp Văn D, sinh năm 1997 và Giáp Văn N, sinh năm 2002. Hiện các cháu đã thành niên và tự lập được nên không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung: Bà không yêu cầu giải quyết.

Toà án đã cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng để bị đơn ông Giáp Văn T thực hiện quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng nhưng vắng mặt không rõ lý do, cũng không có ý kiến trình bày gửi cho Toà án.

Phát biểu quan điểm về kiểm sát tuân theo pháp luật, Kiểm sát viên cho rằng trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã tuân thủ đầy đủ các thủ tục tố tụng cần thiết theo quy định của pháp luật; tại phiên tòa Hội đồng xét xử cũng đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng kể từ khi bắt đầu phiên tòa cho đến trước khi nghị án. Về nội dung vụ án, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 266 Bộ luật tố tụng dân sự; áp dụng các điều 51, 53, 56 của Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận cho bà A được ly hôn với ông T. Bà A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Bà Đào Thị A yêu cầu Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Giáp Văn T, ngoài ra không có yêu cầu gì khác. Do vậy đây là vụ án tranh chấp về ly hôn theo định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt mà không rõ lý do, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về hôn nhân: Hôn nhân giữa bà Đào Thị A và ông Giáp Văn T là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống giữa các đương sự có mâu thuẫn và dẫn đến vợ, chồng không còn chung sống với nhau nữa. Do vậy có căn cứ để xác định hôn nhân giữa bà A và ông T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận cho bà A được ly hôn với ông T là phù hợp.

. Về nuôi con khi ly hôn: Bà A và ông T có hai con, hiện các con đã thành niên và tự lập được nên không yêu cầu giải quyết.

. Về tài sản chung và các nghĩa vụ chung: Nguyên đơn không yêu cầu giải quyết.

. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn bà Đào Thị A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các điều 51, 53, 54, 56 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Về hôn nhân: Bà Đào Thị A được ly hôn với ông Giáp Văn T.

2. Về án phí: Bà Đào Thị A phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu số 0011852 ngày 01 tháng 02 năm 2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai. Bà Đào Thị A đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 này kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ