vanban.org

Bản án 36/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Ngọc Y về việc "Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung" với ông Nguyễn Thành S.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Ngọc Y được ly hôn với ông Nguyễn Thành S. Về con chung: Bà Nguyễn Ngọc Y được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Phương Tuệ Lâm, sinh ngày 21/5/2019. Ông Nguyễn Thành S không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Nguyễn Ngọc Y “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung" ông Nguyễn Thành S"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Ngọc Y về việc "Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung" với ông Nguyễn Thành S.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
́
HUYỆN BÊN LỨ C
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 16-4-2021
V/v tranh chấp về ly hôn, nuôi
con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

́

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÊN LỨ C - TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Đông

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Cao

2. Ông Vũ Hồng Điều

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Thành – Thư ký Toà án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Lan Chi – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 551/2020/TLST-HNGĐ ngày 25/12/2020 về việc “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 3 năm 2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Ngọc Y, sinh năm 1991 (vắng mặt);

Địa chỉ: ấp 4, xã Hựu T, huyện Đức H, tỉnh Long An.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Thành S, sinh năm 1988 (vắng mặt);

Địa chỉ: ấp 5, xã Thạnh L, huyện Bến L, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 13/11/2020, đơn đề nghị giải quyết vắng mặt ngày 15/4/2021 và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc Y trình bày như sau:

Sau thời gian quen biết, tìm hiểu nên giữa bà Nguyễn Ngọc Y và ông Nguyễn Thành S tiến đến hôn nhân; Ông bà có đăng ký kết hôn và được Ủ y ban nhân dân xã Hựu Thạnh, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An cấp giấy chứ ng nhâ ̣n đăng ký kết hôn ngày 09/7/2019; Sau thờ i gian đầu chung sống ha ̣nh phúc và có một con chung; thờ i gian sau đó, giữa ông bà phát sinh nhiều mâu thuẫn; nguyên nhân là do ông S có người phụ nữ khác, vợ chồng không cùng quan điểm trong công việc, gia đình. Ông bà đa ly thân tữ

̀ tháng 10 năm 2020 cho đến nay nhưng không ai có thiê ̣n chi hàn gắn tinh cảm vợ chồng. Nay xét thấy tinh cảm vợ

́

̀

̀ chồng không còn, mu ̣c đich hôn nhân không đa ̣t được nên bà Y khởi kiện yêu

́ cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Ngọc Y yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Thành S.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Phương Tuệ Lâm, sinh ngày 21/5/2019. Hiện nay, cháu Tuệ Lâm đang sống chung với bà Y. Khi Tòa án giải quyết cho bà Y được ly hôn với ông S thì bà Y yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Tuệ Lâm, bà Y không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Y, ông S không có tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản ghi lời khai và đơn đề nghị giải quyết vắng mặt cùng ngày 29/3/2021, bị đơn ông Nguyễn Thành S trình bày như sau:

Ông S thống nhất vớ i lờ i trinh bày của bà Y về quá trinh tim hiểu, quen

̀

̀

̀ biết và thờ i gian sống chung, đăng ký kết hôn, thời gian ly thân, con chung, tài sản chung và nợ chung; Theo ông S nguyên nhân mâu thuẫn là vợ chồng không cùng quan điểm trong công việc, gia đình; vợ chồng đã ly thân từ tháng 10 năm 2020 cho đến nay nhưng cả hai đều không có biện pháp cụ thể nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Bà Y khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông S thì ông S cũng đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của bà Y.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Phương Tuệ Lâm, sinh ngày 21/5/2019. Hiện nay, cháu Tuệ Lâm đang sống chung với bà Y. Khi Tòa án giải quyết cho bà Y được ly hôn với ông thì ông đồng ý giao cháu Tuệ Lâm cho bà Y tiếp tục nuôi dưỡng, ông không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Ông S, bà Y không có tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo pháp luật tố tụng và các đương sự trong vụ án đã chấp hành pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

Về nội dung vụ án: Bà Y và ông S xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2019, có đăng ký kết hôn và được Ủ y ban nhân dân xã Hựu Thạnh, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An cấp giấy chứ ng nhâ ̣n đăng ký kết hôn ngày 09/7/2019 nên hôn nhân giữa bà Y và ông S là hôn nhân hợp pháp.

Xét nguyên nhân chủ yếu dẫn đến mâu thuẫn là do ông S không chăm sóc vợ con, không lo cuộc sống gia đình; vợ chồng đã ly thân từ năm 2020 cho đến nay nhưng không ai có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng, bà Y và ông S cũng không có biện pháp nào cụ thể nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng, chứng tỏ tình trạng hôn nhân đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Bà Y khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông S và được ông S đồng ý. Do đó, đề nghị Hô ̣i đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Y.

Về con chung: Bà Y yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Phương Tuệ Lâm, sinh ngày 21/5/2019, không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi cháu Tuệ Lâm và được ông S đồng ý. Do đó, để tạo điều kiện tốt nhất cho cháu Tuệ Lâm được phát triển bình thường, khỏe mạnh nên đề nghị Hô ̣i đồng xét xử giao cháu Tuệ Lâm cho bà Y được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, ông S không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Y và ông S xác định vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà Y khởi kiện đến Tòa án yêu cầu tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung với ông S. Căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung”.

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn ông Nguyễn Thành S có hộ khẩu thường trú tại huyện Bến Lức, tỉnh Long An. Căn cứ khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An có thẩm quyền giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

Xét về thủ tục xét xử vắng mặt đương sự: Nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc Y và bị đơn ông Nguyễn Thành S trong quá trình giải quyết vụ án có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Y, ông S.

Xét yêu cầu ly hôn của bà Y, thấy rằng:

Bà Y và ông S xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2019, có đăng ký kết hôn và được Ủ y ban nhân dân xã Hựu Thạnh, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An cấp giấy chứ ng nhâ ̣n đăng ký kết hôn ngày 09/7/2019 nên hôn nhân giữa bà Y và ông S là hôn nhân hợp pháp.

Xét nguyên nhân chủ yếu dẫn đến mâu thuẫn thấy rằng: Theo bà Y và ông S nguyên nhân chủ yếu dẫn đến mâu thuẫn là do ông S không chăm lo cuộc sống gia đình; vợ chồng đã ly thân từ tháng 10/2020 cho đến nay nhưng không ai có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng, bà Y và ông S cũng không có biện pháp cụ thể để hàn gắn tình cảm vợ chồng, chứng tỏ tình trạng hôn nhân đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Quá trình giải quyết vụ án, bà Y kiên quyết yêu cầu được ly hôn và được ông S đồng ý. Do đó, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hô ̣i đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Y.

Về con chung: Bà Y và ông S thống nhất, trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Phương Tuệ Lâm, sinh ngày 21/5/2019, hiện nay con chung đang sống chung với bà Y. Quá trình giải quyết vụ án, bà Y yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Phương Tuệ Lâm, sinh ngày 21/5/2019, không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi cháu Tuệ Lâm và được ông S đồng ý. Hiện nay, cháu Tuệ Lâm đang ở với bà Y được phát triển bình thường. Do đó, để tạo điều kiện tốt nhất cho cháu Tuệ Lâm được phát triển khỏe mạnh, Hô ̣i đồng xét xử căn cứ Điều 81 Luâ ̣t Hôn nhân và Gia đinh, giao cháu Tuệ Lâm

̀ cho bà Y được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn: Quá trình giải quyết vụ án, bà Y không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con chung tên Nguyễn Phương Tuệ Lâm, sinh ngày 21/5/2019 nên Hô ̣i đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Y và ông S xác định vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bà Y phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 228; 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Căn cứ vào Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Ngọc Y về việc "Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung" với ông Nguyễn Thành S.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Ngọc Y được ly hôn với ông Nguyễn Thành S.

2. Về con chung: Bà Nguyễn Ngọc Y được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Phương Tuệ Lâm, sinh ngày 21/5/2019. Ông Nguyễn Thành S không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Bên không nuôi con vẫn có quyền và nghĩa vụ tới lui thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản, vì lợi ích của con chung khi có yêu cầu một hoặc hai bên đương sự Toà án có thể quyết định thay đổi việc nuôi dưỡng hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí: Bà Nguyễn Ngọc Y phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000đồng tạm ứng án phí bà Y đã nộp theo biên lai thu số 000.2685 ngày 25/12/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Lức, bà Nguyễn Ngọc Y đã nộp đủ án phí.

4. Về quyền kháng cáo và thời hạn kháng cáo đối với bản án: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo qui định pháp luật.

Cỡ chữ