vanban.org

Bản án 36/2020/HSST — Hình sự

Thành phố Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 02/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tội danh: Tuyên bố bị cáo Tr n Đình V (T) phạm tội “Trộm c p tài

Hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 1 3; Điểm b, s khoản 1 Điều 51 và Xử phạt bị cáo Tr n Đình V (T) 01 (một) năm t . Thời hạn t tính t ngày Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Trần Đình V phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tội danh: Tuyên bố bị cáo Tr n Đình V (T) phạm tội “Trộm c p tài
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 1 Bộ luật Hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 2 CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA V NAM

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 36/2020/HS-ST

Ngày : 02/7/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA V NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 2 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Muôn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Chi

2. Bà Trịnh Thuỵ Thúy Huyền

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Hằng Nga – Thư ký Tòa án nhân dân

Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 2 tham gia phiên tòa: Ông

Nguyễn Hữu Đạt – Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 2, Thành phố

Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 28/2020/TLST-

HS ngày 11 tháng 5 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:

58/2020/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2020, đối với bị cáo:

Trần Đình V (T), sinh ngày: 28 1 , tại Đ k L k; Nơi đăng ký Hộ

khẩu thường trú: Buôn A, huyện B, t nh Đ k L k; Chỗ ở: không cố định; Nghề

nghiệp: không; Trình độ văn hóa (học v n): 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính:

Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: V Nam; Con ông: không rõ và bà: Tr n Thị

L, sinh năm: 1 68; V tên: H-Nuẩn B (chưa đăng ký kết hôn); Bị cáo là con duy

nh t trong gia đình; Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam t ngày 1 3 2020 đến nay, có mặt tại phiên

tòa.

Bị hại: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm: 1 88 (V ng mặt).

Nơi đăng ký Hộ khẩu thường trú: Đức Phong, Mộ Đức, Quảng Ngãi.

Tạm trú: 2 11 Thiên Phước, Phường 9, Quận Tân Bình, Thành phố Hồ

Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án

đư c tóm t t như sau:

Tr n Đình V quen anh Nguyễn Văn N thông qua mạng alo. Ngày

14/12/2018, V hẹn gặp anh Ngọc và sau khi anh N đồng ý thì V đón xe ôm t Quận 12 đến khách sạn Hoàng Long Sơn 2, địa ch : 14-16-18 Đường , Khu phố 5, Phường An Phú, Quận 2 gặp anh Hu nh Thái Duy là tiếp tân của khách sạn thuê phòng 211. Khoảng 1 giờ, anh N đến khách sạn gửi xe, đưa gi y tờ t y thân cho tiếp tân và gọi V xuống đón. Khi vào phòng cả hai ngồi nói chuyện với nhau khoảng 15 phút thì anh N đi t m và để tài sản gồm 02 điện thoại di động, 01 dây chuyền mặt hình thánh giá, 02 chiếc nhẫn có đính hột màu xanh và màu tím, 01 đồng hồ đeo tay hiệu Rolex trên bàn nên V l y t t cả số tài sản trên c t vào hai túi qu n rồi rời kh i khách sạn. Sau khi t m xong phát hiện tài sản bị m t, anh Ngọc đã đến Công an phường An Phú, Quận 2 trình báo vụ việc. Sau khi l y tài sản, V đến một quán cà phê g n đó, d ng tăm tháo sim điện thoại di động rồi đón xe về lại Quận 12, ngày hôm sau đón xe về quê ở Đ k L k. Trên đường đi V ném b 01 điện thoại bị bể màn hình và khóa mật mã (không rõ nơi ném); điện thoại di động còn lại và 01 đồng hồ Rolex màu vàng V bán cho một người không rõ lai lịch đư c 1.600.000 đồng. S i dây chuyền màu vàng V để lại sử dụng và đã giao nộp sau khi mời về làm việc. Riêng 02 nhẫn màu vàng đính đá màu tím và màu xanh c ng mặt thánh giá màu vàng do không bán đư c nên V vứt b không thu hồi đư c. Đến ngày 22 4 201 , V trở lại Thành phố Hồ Chí Minh và vào khách sạn Xuân Hoa, địa ch : 10/4, Tổ 2 , Khu phố 2, Phường Tân Thới Nh t, Quận 12 để lưu trú. Anh Lý Hoa Đăng là quản lý khách sạn đến Công an phường đăng ký lưu trú cho khách thì th y hình ảnh đối tư ng dán trên thông báo truy tìm giống với V nên đến Công an Quận 2 trình báo. Ngày 24 4 201 , Công an Quận 2 đã mời V về làm việc. Tại đây, V đã th a nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và giao nộp 01 dây chuyền màu vàng.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 5 HĐĐGTS-TCKH ngày 26 02 201

của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân Quận 2 kết luận: Điện thoại di động Huawei màu đồng trị giá 3. 00.000 (Ba triệu, chín trăm nghìn) đồng; Điện thoại di động Xiaomi Note 4 màu đen có giá 4.300.000 (Bốn triệu, ba trăm nghìn) đồng.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 226 HĐĐGTS-TCKH ngày 2 tháng 6

năm 201 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân Quận 2 kết luận: 01 s i dây chuyền màu vàng loại m t xích có trị giá 500.000 (Năm trăm nghìn) đồng.

Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 8. 00.000 (Tám triệu, bảy trăm nghìn)

đồng.

01 (một) đồng hồ đeo tay hiệu Rolex; 01 (một) nhẫn kiểu đính đá Ruby

tím và một nhẫn kiểu đính đá thường không định giá đư c do không thu hồi

đư c.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) dây chuyền màu vàng.

Cáo trạng số: 32/CT-VKSQ2 ngày 06/5 2020, Viện kiểm sát nhân dân

Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Tr n Đình V về tội “Trộm c p

tài sản”, theo khoản 1 Điều 1 3 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung

năm 201 .

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm

truy tố bị cáo Tr n Đình V như nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích hành

vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như

nhân thân bị cáo trong quá trình phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị

cáo Tr n Đình V phạm tội “Trộm c p tài sản” và áp dụng khoản 1 Điều 173;

Các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo t 01

(một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng t . Thời hạn t tính t ngày

17/3/2020.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, anh Nguyễn Văn Ngọc đã nhận lại 01 dây

chuyền bằng kim loại màu vàng và số tiền 4.500.000 đồng do bị cáo tự nguyện

bồi thường kh c phục hậu quả. Anh N không yêu c u bị cáo bồi thường gì thêm

nên không đặt v n đề giải quyết.

Xử lý vật chứng: 01 (một) dây chuyền bằng kim loại màu vàng thu giữ

của bị cáo, Cơ quan cảnh sát điều tra trả lại cho anh N.

Tại phiên tòa:

Ph n tranh luận, bị cáo th a nhận hành vi phạm tội như cáo trạng và luận

tội của kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận gì.

Lời nói sau c ng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình

phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã

đư c tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa, bị cáo Tr n Đình V không có ý kiến hoặc khiếu nại gì

về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều h p pháp.

Xét mặc d đã đư c triệu tập nhưng bị hại là anh Nguyễn Văn Ngọc

v ng mặt tại phiên tòa hôm nay. Tuy nhiên, tại phiên toà ngày 2 5 2020, anh Ngọc vẫn giữ nguyên các lời khai của mình trước đây tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 2 là thông qua mạng xã hội alo có quen biết với một người thanh niên tên H ng và người này hứa sẽ giới thiệu cho anh N một người phụ nữ để làm quen. Khoảng 13 giờ ngày 14/12/2018, H ng gọi điện thoại kêu anh N đến Khách sạn Hoàng Long Sơn 2, số 14-16-18 Đường , Khu phố 5, Phường An Phú, Quận 2 sẽ giới thiệu cho người phụ nữ. Trước khi đi anh N có gọi điện thoại cho người phụ nữ mà H ng giới thiệu hẹn đến khách sạn. Đến khoảng 1 giờ, anh N đến khách sạn thì H ng và người phụ nữ gọi đến nhiều l n nói về chuyện tình cảm. Đến khách sạn thì có nam thanh niên tên là Tr n Đình V ra đón và tự xưng là nhân viên của khách sạn, hướng dẫn anh N gửi xe, đến qu y lễ tân đăng ký và dẫn anh N lên phòng 211. Khi cả hai đang ở trong phòng thì H ng gọi điện thoại cho V kêu anh N thay đồ và qu n khăn phía dưới để chụp hình gửi cho H ng để H ng đưa cho người phụ nữ. Sau đó, V nói anh N t t định vị, t t nguồn điện thoại để tránh bị theo dõi. Đồng thời, V kêu anh N tháo nhẫn, dây chuyền, đồng hồ và tài sản đưa cho V mang xuống gửi qu y lễ tân. Đ i khoảng g n 30 phút không ai lên, anh N xuống tiếp tân h i tài sản thì tiếp tân trả lời không giữ tài sản của anh N. Anh N đã đến công an phường trình báo sự việc. T lời khai này của bị hại, ngày 16 4 2020 Thủ trưởng Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 2 đã có Quyết định số 4 QĐ khởi tố vụ án hình sự “L a đảo chiếm đoạt tài sản” xảy ra tại Khách sạn Hoàng Long Sơn 2, số 14-16-18 Đường , Khu phố 5, Phường An Phú, Quận 2. Sau khi bị b t, bị cáo Tr n Đình V khai vào khoảng tháng 12 2018, thông qua mạng alo có quen và biết anh Nguyễn Văn N là bê đê, thích quan hệ đồng tính nam. Sau khi nói chuyện biết anh N đang ở Quận 2 nên bị cáo hẹn gặp anh N. Khoảng 1 giờ 30 phút, ngày 14/12/2018, bị cáo đón Grab t Quận 12 đến Quận 2 đi lòng vòng và nhìn th y Khách sạn Hoàng Long Sơn 2, số 14-16-18 Đường , Khu phố 5, Phường An Phú, Quận 2, bị cáo vào thuê phòng và đư c bố trí phòng 211. Khoảng 30 phút sau, anh N đến và hai người ngồi trong phòng nói chuyện đư c khoảng 15 phút thì anh N cởi đồ và tài sản để trên bàn đi t m. Trong lúc ngồi trên giường xem ti vi và chờ anh N, bị cáo nhìn th y có nhiều tài sản nên nảy sinh ý định và đã chiếm đoạt tài sản của anh N gồm 02 điện thoại di động, 01 dây chuyền màu vàng, 02 chiếc nhẫn có đính hột màu xanh và màu tím, 01 đồng hồ đeo tay hiệu Rolex b vào hai túi qu n rời kh i khách sạn đến một quán cà phê g n đó ngồi

uống nước và d ng tăm tháo sim vứt b , một lúc đón xe về khách sạn tại Quận

12 ngh . Ngày hôm sau đón xe về Đ k L k. Trên đường đi, bị cáo đã vứt 01 điện

thoại di động do bể màn hình và cài mật khẩu, chiếc điện thoại còn lại bán cho

một người đi đường đư c 1.300.000 đồng, s i dây chuyền bị cáo để lại sử dụng

và đã giao nộp sau khi mời về làm việc, 02 nhẫn màu vàng mang đi bán nhưng

tiệm vàng nói là đồ giả nên vứt b , đồng hồ Rolex màu vàng bán cho một người

không rõ lai lịch đư c 300.000 đồng. Đến ngày 22 4 201 , bị cáo xuống Thành

phồ Hồ Chí Minh và vào khách sạn Xuân Hoa, địa ch : 10 4, Tổ 2 , Khu phố 2,

phường Tân Thới Nh t, Quận 12 để lưu trú. Anh Lý Hoa Đăng là quản lý khách

sạn đến Công an phường đăng ký lưu trú cho khách thì th y hình ảnh đối tư ng

dán trên thông báo truy tìm giống với bị cáo nên đến Công an Quận 2 trình báo.

Ngày 24 4 201 , Công an Quận 2 mời đến làm việc thì bị cáo đã th a nhận toàn

bộ hành vi phạm tội của mình và giao nộp 01 dây chuyền màu vàng. Do không

chứng minh đư c hành vi l a đảo chiếm đoạt tài sản nên vào ngày 18 6 2010,

Thủ trưởng Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 2 có Quyết định số 01 QĐ

thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự số 4 QĐ ngày 16 4 2020 t “L a đảo

chiếm đoạt tài sản” sang “Trộm c p tài sản”.

Xét lời khai giữa bị cáo và bị hại mâu thuẫn nhau nhưng không chứng

minh đư c giữa bị cáo V, người thanh niên tên H ng và người phụ nữ c ng

tham gia để nhằm chiếm đoạt tài sản của anh Nguyễn Văn N. Ngày 11 6 2020,

Trung tâm an ninh mạng – VNPT Net có văn bản thông báo hệ thống của VNPT

Net không còn lưu trữ dữ liệu quá thời hạn 01 năm tính t thời điểm hiện tại. Do

đó, ch có cở sở xét xử bị cáo Tr n Đình V về hành vi trộm c p tài sản.

Xét lời khai của bị cáo tại phiên toà ph h p với các lời khai tại cơ quan

điều tra, bị hại, người làm chứng và ph h p với các tài liệu, chứng cứ khác có

trong hồ sơ vụ án có cơ sở kết luận: Vào koảng 18 giờ ngày 14 12 2018, tại

phòng 211 của Khách sạn Hoàng Long Sơn 2, số 14-16-18 Đường , Khu phố 5,

Phường An Phú, Quận 2, bị cáo đã lén lút l y trộm tài sản của anh N trị giá

8. 00.000 đồng. Với hành vi này, bị cáo đã phạm tội “Trộm c p tài sản”, tội

phạm và hình phạt đư c quy định tại khoản 1 Điều 1 3 Bộ luật Hình sự năm

2015, sửa đổi, bổ sung năm 201 .

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến

quyền sở hữu về tài sản của công dân, phạm tội với lỗi cố ý, gây m t trật tự trị

an và an toàn xã hội. Bản thân bị cáo có sức kh e để lao động nhưng vì lòng

tham nên đã b t ch p pháp luật nhằm chiếm đoạt tài sản của anh N. Sau khi l y

tài sản của anh N, bị cáo đã b về Đ k L k gây khó khăn cho quá trình điều tra mặc d trước đã đư c công an cho làm bản cam kết, tài sản chiếm đoạt ch thu hồi đư c một ph n trả lại cho bị hại. Do đó, c n phải xử nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, cách ly bị cáo ra kh i đời sống xã hội một thời gian dài để giáo dục, cải tạo mới có tác dụng răn đe và phòng ng a chung.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai

báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 4.500.000 đồng để kh c phục hậu quả, đư c bị hại viết đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt. Căn cứ điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử giảm nhẹ một ph n hình phạt cho bị cáo khi lư ng hình.

Về trách nhiệm dân sự: Xét, bị hại anh Nguyễn Văn Ngọc đã nhận của

bị cáo số tiền 4.500.000 đồng để kh c phục hậu quả, anh N không yêu c u bị cáo bồi thường gì thêm nên không xét.

Vật xử lý vật chứng: Xét 01 (một) dây chuyền bằng kim loại màu vàng

thu giữ của bị cáo, Cơ quan cảnh sát điều tra trả lại cho anh N là có căn cứ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo

quy định của pháp luật.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tội danh: Tuyên bố bị cáo Tr n Đình V (T) phạm tội “Trộm c p tài

sản”.

2. Hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 1 3; Điểm b, s khoản 1 Điều 51 và

Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Tr n Đình V (T) 01 (một) năm t . Thời hạn t tính t ngày

17/3/2020.

3. Về trách nhiệm dân sự: Không giải quyết do bị hại không yêu c u.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố

tụng hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 và mục 1 ph n I Danh mục án phí, lệ phí Tòa án (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án)

Bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng, án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình

sự năm 2015:

- Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể t ngày tuyên

án.

- Bị hại v ng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15

ngày, kể t ngày niêm yết hoặc nhận đư c bản án.

Cỡ chữ