- Tranh chấp gì? án hình sự — "TRẦN QUANG H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Quang H (tên gọi khác: Trần Tiến H) phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TAND HUYỆN V H TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2020/HS-ST Ngày 19 tháng 6 năm 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V H, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Quang.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mùi Văn Hoạt và bà Trần Thị Thu Thủy.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Định - Thư ký Tòa án nhân dân huyện VH, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyệnVH tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện VH, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 39/2020/TLST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2020/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 6 năm 2020, đối với bị cáo:
Trần Quang H, tên gọi khác: Trần Tiến H, sinh năm 1982, tại M Ch, Sơn La.
Nơi cư trú: Tiểu Khu 19/8, thị trấn Nông trường M Ch, huyện M Ch, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; đảng phái, đoàn thể: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Quang D (đã chết) và bà Nguyễn Thị Ng; bị cáo có vợ là Triệu Thị Ng (đã ly hôn), bị cáo chưa có con; .
Nhân thân:
+ Ngày 11/6/2003, bị UBND tỉnh Sơn La đưa vào trường giáo dưỡng do hành vi Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong ngày 19/4/2004
+ Ngày 13/5/2011, bị UBND huyện M Ch, tỉnh Sơn La đưa đi cai nghiện ma túy bắt buộc.
+ Ngày 22/9/2017, bị UBND thị trấn Nông trường M Ch, huyện M Ch, tỉnh Sơn La áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, thị trấn do nghiện ma túy.
+ Ngày 21/10/2005, Tòa án nhân dân huyện M Ch, tỉnh Sơn La xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo khoản 1 điều 194, điểm p khoản 1 điều 46 BLHS 1999. Chấp hành xong hình phạt ngày 11/01/2008.
Ngày 12/8/2011, Tòa án nhân dân huyện M Ch, tỉnh Sơn La xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, theo khoản 1 điều 138, điểm p khoản 1 điều 46 BLHS 1999.
Tiền sự: Ngày 29/12/2017 bị TAND huyện M Ch, tỉnh Sơn La áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở điều trị nghiện ma túy. Chấp hành xong ngày 28/10/2019.
Tiền án: Ngày 26/9/2011, Tòa án nhân dân huyện M Ch, tỉnh Sơn La xử phạt 07 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm h khoản 2 điều 194 BLHS 1999, áp dụng điều 53 BLHS 1999, tổng hợp với hình phạt 15 tháng tù của bản án số 214/2011/HSST, ngày 12/8/2011 của TAND huyện M Ch về tội Trộm cắp tài sản, cộng là 08 năm 03 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt ngày 14/9/2017.
Bị bắt tạm giam, tạm giữ từ ngày 24/02/2020 cho đến nay. Có mặt.
Người có QLNVLQ: Bà Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1958; địa chỉ: T Kh 19/8, thị trấn N tr M Ch, huyện M Ch, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 07 giờ 45 phút, ngày 24/02/2020, tại bản B Nh 2, xã VH, huyện VH, tỉnh Sơn La. Tổ công tác công an huyện VH kiểm tra phát hiện bắt quả tang Trần Quang H diều khiển xe máy nhãn hiệu Yamaha Nouvo, màu trắng đen, BKS 35M2 - 2790 tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ trong túi quần bên phải của bị cáo là 01 gói nilon màu hồng, bên trong chứa hai gói: 01 gói nilon màu trắng, tiếp đến là mảnh giấy màu trắng, trong cùng chứa chất bột màu trắng và 01 gói nilon màu hồng, tiếp đến là lớp nilon màu xanh trong cùng chứa chất bột màu trắng. H khai nhận đó là 02 gói Heroine tàng trữ để sử dụng.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, Trần Quang H khai nhận: Do nghiện ma túy, khoảng 09 giờ ngày 20/02/2020 Hưng điều khiển xe máy BKS 35M2 - 2790 đi từ nhà đến nhà một người đàn ông dân tộc Mông, tên là C, địa chỉ ở bản Ch T, xã VH, huyện VH, tỉnh Sơn La, hỏi mua ma túy. H đưa cho C 4.000.000 đồng, được C bán cho một gói Heroine, đem về nhà sử dụng dần. Trong các ngày từ 20/02/2020 đến 24/02/2020, H đã 05 lần sử dụng số Heroine trên. Số Heroine còn lại, H chia làm 02 gói nhỏ, cất vào túi quần. Khoảng 07 giờ 45 phút ngày 24/02/2020 H lại điều khiển xe máy BKS 35M2 – 2790 đến bản Ch T tìm mua ma túy sử dụng. Khi đến địa phận bản B Nh 2, xã VH, H bị Tổ công tác công an huyện VH làm nhiệm vụ phát hiện bắt quả tang tàng trữ trái phép chất ma túy. Cơ quan điều tra cũng tạm giữ của H 01 xe máy BKS 35M2 – 2790 kèm 01 đăng ký xe; số tiền 27.070.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia
Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành cân tịnh 02 gói nilon đựng chất bột màu trắng thu giữ của Trần Quang H xác định được:
+ Khối lượng chất bột màu trắng trong gói thứ nhất là 0,38 gam, lấy toàn bộ gửi giám định, ký hiệu H.
+ Khối lượng chất bột màu trắng trong gói thứ hai là 1,2 gam, lấy toàn bộ gửi giám định, ký hiệu H1.
Kết luận giám định số 406/KLMT ngày 28/02/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận "Mẫu gửi giám định ký hiệu H, H1 đều là ma túy; Loại Heroine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là H = 0,38 gam, H1 = 1,2 gam; Tổng khối lượng ma túy thu giữ được là 1,58 gam Heroine. Hoàn lại đối tượng giám định: Chất bột màu trắng thuộc các mẫu gửi giám định không sử dụng đến trong quá trình giám định có khối lượng: H = 0,34 gam, H1 = 1,16 gam”
Quá trình điều tra xác định được: Bị cáo Trần Quang H không nhớ địa điểm, nhà ở của người bán ma túy tên C. Chính quyền địa phương xác định không có ai tên là C có đặc điểm như bị cáo khai. Số tiền 27.070.000 đồng thu giữ trên người của bị cáo có 24.000.000 đồng là của mẹ đẻ bị cáo, bà Nguyễn Thị Ng, đã đưa cho Hưng làm vốn buôn bán. Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Nguyễn Thị Ng. Còn lại 3.070.000 là của bị cáo, bị cáo định sẽ sử dụng 3.000.000 đồng để mua ma túy, chưa kịp thực hiện hành vi phạm tội thì bị phát hiện thu giữ. Chiếc xe máy BKS 35M2 – 2790 kèm 01 đăng ký xe là tài sản hợp pháp của bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội.
Cáo trạng số 38/CT – VKS ngày 19/5/2020 của VKSND huyện VH, truy tố Trần Quang H về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 điều 249 BLHS. Tại phiên tòa, kiểm sát viên vẫn bảo vệ nội dung Cáo trạng truy tố bị cáo, đề nghị HĐXX xem xét: Tuyên bố Trần Quang H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
* Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1 điều 51, điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt: Trần Quang H từ 30 đến 36 tháng tù.
+ Không phạt bổ sung đối với bị cáo; áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu để tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 01 phong bì niêm phong cũ và 1,50 gam Heroine; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng vỏ gói niêm phong ban đầu, 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que thử ma túy đối với Trần Quang H;
+ Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia + 01 sim Viettel và số tiền 70.000 đồng, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án phí; .
+ Tịch thu sung Ng sách nhà nước: 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha, loại Nouvo, BKS 35M2 – 2790 màu trắng vàng, số máy 5P11 – 208412, số khung Y208409 đã qua sử dụng; 01 đăng ký Mô tô xe máy số 015856 mang tên Đặng Thế Avà số tiền 3.000.000 đồng.
+ Chấp nhận việc CQĐT đã trả lại số tiền 24.000.000 đồng cho bà Nguyễn Thị Ng quả lý, sử dụng. Chấp nhận việc bà Nguyễn Thị Ng không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.
+ Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Ngày 24/02/2020, Trần Quang H bị phát hiện bắt quả tang tàng trữ 02 gói Heroine, khối lượng 1,58 gam với mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 BLHS. Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản ghi lời khai, hỏi cung, bản tự khai của bị cáo và lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa...
Tính chất hành vi của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma tuý, là nguyên nhân lây lan tệ nạn ma túy, phát sinh tội phạm khác. Bị cáo có nhân thân xấu (nhiều lần bị bắt buộc cai nghiện), phạm tội trong khi chưa được xóa án tích, đang có tiền sự bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc. Do vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với hành vi phạm tội của bị cáo, để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, nên được xem xét cho hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1 điều 51 BLHS.
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện VH, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện VH, Kiểm sát viên trong qua trình điều tra, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. HĐXX xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án Điều tra viên, Kiểm sát viên chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 điều 249 BLHS, bị cáo còn có thể bị phạt tiền. Xét thấy bị cáo nghiện ma tuý, không có khả năng thi hành, nên không áp dụng phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Vật chứng của vụ án: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 01 phong bì niêm phong cũ và 1,50 gam Heroine; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng vỏ gói niêm phong ban đầu, 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que thử ma túy đối với Trần Quang H, là những vật bị cấm lưu hành hoặc không có giá trị sử dụng, cần tuyên tịch thu để tiêu hủy.
+ 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha, loại Nouvo, BKS 35M2 – 2790 màu trắng vàng, số máy 5P11 – 208412, số khung Y208409 đã qua sử dụng; 01 đăng ký Mô tô xe máy số 015856 mang tên Đặng Thế A là tài sản hợp pháp của bị cáo dùng vào làm phương tiện phạm tội, số tiền 3.000.000 đồng bị cáo định sử dụng vào việc mua ma túy, cần tuyên tịch thu sung Ng sách nhà nước.
+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia + 01 sim Viettel đã qua sử dụng, và số tiền 70.000 đồng của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội, không tịch thu, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án phí;
+ Bà Nguyễn Thị Ng (mẹ đẻ bị cáo) đưa cho bị cáo số tiền 24.000.000 đồng để làm ăn. Bà Ng không biết, không liên quan đến việc bị cáo phạm tội. Do vậy, chấp nhận việc CQĐT đã trả lại số tiền 24.000.000 đồng cho bà Nguyễn Thị Ng quả lý, sử dụng. Tại phiên tòa, bà Ng không yêu cầu bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường gì thêm, không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.
Về nguồn gốc chất ma túy: Người đàn ông dân tộc Mông, tên là C đã bán ma túy cho bị cáo, bị cáo không nhớ địa chỉ, Chính quyền địa phương xác định không có ai tên là C có đặc điểm như bị cáo khai. Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý trong vụ án này.
Bị cáo phạm tội, phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1 điều 51, điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự;
1. Tuyên bố bị cáo Trần Quang H (tên gọi khác: Trần Tiến H) phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt: 36 (Ba sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tình từ ngày 24/02/2020.
Không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Áp dụng các điểm a, c khoản 1, khoản 2 điều 47 BLHS, điểm a, c khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
+ Tịch thu để tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 01 phong bì niêm phong cũ và 1,50 gam Heroine; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng vỏ gói niêm phong ban đầu, 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que thử ma túy đối với Trần Quang H.
+ Tịch thu sung Ng sách nhà nước: 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha, loại Nouvo, BKS 35M2 – 2790 màu trắng vàng, số máy 5P11 – 208412, số khung Y208409 đã qua sử dụng; 01 đăng ký Mô tô xe máy số 015856 mang tên Đặng Thế Avà số tiền 3.000.000 đồng.
+ Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia + 01 sim Viettel đã qua sử dụng và số tiền 70.000 đồng, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án phí;
Theo biên bản giao vật chứng số: 58/BBVC và Biên lai thu tiền số 0003516, ngày 25 tháng 5 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện VH.
+ Chấp nhận việc CQĐT đã trả lại số tiền 24.000.000 đồng cho bà Nguyễn Thị Ng quả lý, sử dụng. Chấp nhận việc bà Nguyễn Thị Ng không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có QLNVLQ có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA Mùi Văn Hoạt
Trần Thị Thu Thủy
Nguyễn Đăng Quang Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAT
- VKS tỉnh, huyện
- CA huyện, CQ THAHS
- THADS
- Sở TP
- Trại Giam
- Bị cáo, người có QLNVLQ
- Lưu HS.
Nguyễn Đăng Quang
- Lưu VP.
Hướng dẫn sử dụng mẫu số 27-HS:
Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo bản hướng dẫn này được soạn thảo theo tinh thần quy định tại các điều 254, 260 và 423 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo hướng dẫn này được sử dụng cho tất cả các Tòa án khi xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Sau đây là những hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo:
(1) và (4) nếu là Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì ghi tên Tòa án nhân dân quận (huyện, thị xã, thành phố) gì thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An); nếu là Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì ghi tên Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (ví dụ: Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội); nếu là Tòa án quân sự khu vực thì ghi tên Tòa án quân sự khu vực gì thuộc quân khu, quân chủng nào; nếu là Tòa án quân sự quân khu, quân chủng thì ghi tên Tòa án quân sự quân khu, quân chủng (ví dụ: Tòa án quân sự Quân khu Thủ đô).
(2) ô thứ nhất ghi số Bản án, ô thứ hai ghi năm ra Bản án (ví dụ: 16/2017/HS-ST).
(3) ghi ngày, tháng, năm tuyên án không phân biệt vụ án được xét xử sơ thẩm và kết thúc trong một ngày hay được xét xử sơ thẩm trong nhiều ngày hoặc nghị án kéo dài.
(5) nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm ba người, thì chỉ ghi đầy đủ họ tên của
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, bỏ dòng Thẩm phán..., đối với Hội thẩm nhân dân (quân nhân) chỉ ghi đầy đủ họ tên của hai Hội thẩm nhân dân (quân nhân); nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có năm người, thì ghi đầy đủ họ tên của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, họ tên của Thẩm phán, họ tên của cả ba Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Cần chú ý không ghi chức vụ của Thẩm phán; đối với vụ án hình sự thông thường thì không ghi chức vụ, nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân (quân nhân); đối với vụ án hình sự có bị cáo là người dưới 18 tuổi thì ghi nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Nếu vụ án do Tòa án quân sự giải quyết thì không ghi Ông (Bà) mà ghi cấp bậc quân hàm.
(6)ghi đầy đủ họ tên của Thư ký phiên tòa và ghi rõ là Thư ký Tòa án hoặc Thẩm tra viên của Tòa án nào như hướng dẫn tại điểm (1).
(7) ghi tên Viện kiểm sát như hướng dẫn tại (1); ghi họ tên Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.
(8) trường hợp vụ án được xét xử và kết thúc trong một ngày thì bỏ hai chữ Trong các (ví dụ: Ngày 15 tháng 7 năm 2017). Trường hợp vụ án được xét xử trong hai ngày thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 02, 03 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà liền nhau thì ghi Từ ngày đến ngày (ví dụ: Từ ngày 06 đến ngày 10 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà không liền nhau thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 07, 08 và ngày 15 tháng 3 năm 2017); nếu khác tháng mà liền nhau thì ghi từ ngày... tháng... đến ngày... tháng... (ví dụ: Từ ngày 31 tháng 05 đến ngày 02 tháng 6 năm 2017); nếu không liền nhau thì ghi các ngày của từng tháng (Ví dụ: Trong các ngày 30, 31 tháng 3 và các ngày 04, 05 tháng 4 năm 2017).
(9) nếu vụ án được xét xử tại trụ sở Tòa án thì ghi như hướng dẫn tại mục (1) (4). Nếu vụ án được xét xử lưu động thì ghi địa điểm nơi diễn ra phiên tòa.
(10) nếu xét xử kín thì thay cụm từ công khai bằng từ kín.
(11) và (12) ghi đầy đủ họ tên bị cáo và các bí danh, tên thường gọi khác (nếu có); nếu bị cáo là người dưới 18 tuổi phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh tính đến ngày bị cáo thực hiện hành vi phạm tội (ví dụ: Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 8 tháng 15 ngày); nếu bị cáo trên 18 tuổi thì ghi ngày, tháng, năm sinh hoặc tuổi; ghi nơi đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú, nơi sinh sống của bị cáo. Đối với tiền sự thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị xử lý đó tính đến ngày phạm tội chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật. Đối với tiền án thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị kết án đó tính đến ngày phạm tội chưa được xoá án. Về nhân thânghi án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật cụ thể các lần đó và ghi rõ là các án tích, xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật đó đã được xoá. Trường hợp bị cáo là pháp nhân thương mại thì ghi tên, địa chỉ trụ sở, tên người đại diện theo pháp luật, tiền án, tiền sự của pháp nhân thương mại và các thông tin cần thiết khác; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(13) ghi ngày bị cáo bị bắt, tạm giam; nếu trước đó bị cáo đã bị tạm giữ, bị bắt, tạm giam, thì ghi ngày bị tạm giữ, ngày bị bắt, tạm giam và ngày được cho tại ngoại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(14) và (15) nếu bị cáo có người đại diện hợp pháp thì ghi rõ họ tên của bị cáo đó (ví dụ: Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn A). Sau chữ là ghi quan hệ như thế nào với bị cáo (ví dụ: là bố của bị cáo); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(16) nếu có người bào chữa thì ghi đầy đủ họ tên của người bào chữa và họ tên của bị cáo được bào chữa; nếu người bào chữa là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào (ví dụ: Ông Trần B, Luật sư Văn phòng luật sư Vạn Xuân thuộc Đoàn luật sư tỉnh H bào chữa cho Nguyễn Văn C); nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bào chữa (ví dụ: Bà Lê Thị M, bào chữa viên nhân dân công tác tại Hội luật gia tỉnh M bào chữa cho Nguyễn Văn D); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(17), (18), (19), (20), (21), (22), (23) và (24) nếu có người nào tham gia tố tụng thì ghi đầy đủ họ tên, tuổi, nơi cư trú của người đó. Trường hợp bị hại là người bị xâm phạm về tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự và là người dưới 18 tuổi, thì phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh của bị hại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(25) nếu bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có người bảo vệ quyền lợi cho họ, thì ghi đầy đủ họ tên của họ theo thứ tự; nếu người bảo vệ quyền lợi của đương sự là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào; nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bảo vệ quyền lợi cho đương sự; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi có mặt và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi vắng mặt.
(26) nếu có người tham gia tố tụng là người làm chứng thì ghi đầy đủ họ tên; nếu người tham gia tố tụng là người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật thì ghi đầy đủ họ tên, cơ quan công tác.
(27) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
(28) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại các điểm d, đ và e khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trong phần này, các đoạn văn được đánh số thứ thự trong dấu [ ].
(29) tùy từng trường hợp mà ghi rõ căn cứ pháp luật để ra quyết định.
(30) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
(31) phần cuối cùng của bản án, đối với bản án được thông qua tại phòng nghị án thì phải có đầy đủ chữ ký, ghi đầy đủ họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử và đóng dấu (bản án này phải lưu vào hồ sơ vụ án); đối với bản án để gửi cho các bị cáo, các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì ghi như sau:
| Nơi nhận: Ghi những nơi mà Tòa án cấp sơ thẩm phải giao hoặc gửi bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 262 của Bộ luật Tố tụng hình sự và những nơi cần lưu bản án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) |