vanban.org

Bản án 36/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình Tuyên án 03/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trƣơng Minh T phạm tội "Gây rối trật tự công cộng”.

Xử phạt: Trƣơng Minh T 30 tháng tù cho hƣởng án treo thời gian thử thách 60 tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 03/7/2020). Giao bị cáo Trƣơng Minh Tuấn cho UBND xã V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trƣờng hợp ngƣời đƣợc hƣởng án treo t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Minh T - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trƣơng Minh T phạm tội "Gây rối trật tự công cộng”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2020/HS-ST
Ngày: 03 - 7 - 2020.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hồng Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Ngân Hà

Bà Nguyễn Thị Vòng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Tuyết Nga - Thƣ ký TAND thành phố Đồng Hới.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Đồng Hới tham gia phiên tòa: Ông Ngô Hải Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 7 năm 2020, tại Trụ sở TAND thành phố Đồng Hới mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 34/2020/TLST-HS ngày 08 tháng 6 năm 2020; theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 36/2020/QĐXXST-HS ngày 17/6/2020, đối với bị cáo:

Họ và tên: TRƢƠNG MINH T; sinh ngày 02/3/1992, tại Quảng Bình; nơi ĐKHKTT và cƣ trú: Thôn V 3, xã V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trƣơng Văn V, sinh năm: 1955; con bà: Đỗ Thị N, sinh năm: 1962, hiện ông, bà đều làm ruộng và trú tại: Thôn V, xã V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; gia đình có 05 chị em, T là con thứ 4, chƣa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cƣ trú” từ ngày 16/4/2020 đến ngày 09/7/2020 và “Cấm xuất cảnh” từ ngày 16/4/2020 đến ngày 09/7/2020. Có mặt tại phiên toà.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Đặng Văn B, sinh ngày: 08/7/1989; địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; Có mặt tại phiên toà.

2. Anh Phan Thanh N, sinh ngày: 22/8/1988; địa chỉ: Khu dân phố V, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; Vắng mặt tại phiên tòa.

3. Chị Bùi Thị Thiên Hà, sinh ngày: 04/4/1998; địa chỉ: Thôn V 3, xã V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; Vắng mặt tại phiên toà.

4. Chị Đặng Thị Thiên N, sinh ngày: 10/10/1996; địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; Có mặt tại phiên toà.

- Người làm chứng:

1. Chị Hà Thị Thu H, sinh ngày: 26/02/1994; địa chỉ: Khu dân phố V, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; Vắng mặt.

2. Chị Hà Thị V, sinh ngày: 24/4/1996; địa chỉ: Thôn V 3, xã V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; Vắng mặt.

3. Anh Hồ Văn B, sinh ngày: 11/5/2002; địa chỉ: Tổ dân phố x, phƣờng N, Tp. Đ, Quảng Bình; Vắng mặt.

4. Anh Nguyễn Văn D, sinh ngày: 20/4/1999; địa chỉ: Thôn H, xã A, huyện Q, Quảng Bình; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Khoảng 21giờ 00 ngày 06/12/2019, Trƣơng Minh T cùng Bùi Thị Thiên H (là bạn gái của T), Đặng Văn B, Phan Thanh N, Hà Thị Thu H và Hà Thị V đến ăn uống tại Nhà hàng B, đƣờng P, thuộc TDP x, phƣờng N. Trong lúc ngồi ăn T và Bùi Thị Thiên H xảy ra mâu thuẫn nên T dùng tay tát vào mặt H. Tuấn và H đi ra vỉa hè đƣờng P, T tiếp tục chửi bới và dùng tay đánh H gây ồn ào, náo loạn tại khu vực. Đặng Văn B và Phan Thanh N chạy ra can ngăn thì T chửi bới và lấy ở thắt lƣng quần ra 01 con dao dài 12,4cm, cán dao bằng kim loại có hoa văn màu xám dài 7cm, lƣỡi dao bằng kim loại có một cạnh sắc nhọn dài 5,4cm đâm quơ về phía trƣớc, N vào can ngăn thì bị trúng vào ngực phải, B bị trúng vào ngực trái và lƣng. Thấy T gây mất trật tự trị an, B đã nhặt 01 gậy gỗ ép sát vào ngƣời T. Sau đó lực lƣợng Công an đến khống chế giải quyết vụ việc.

Hậu quả anh Phan Thanh N và Đặng Văn B bị thƣơng tích đƣợc đƣa đi sơ cứu. Anh N và anh B từ chối giám định thƣơng tích, không yêu cầu khởi tố hình sự.

Vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 con dao dài 12,4cm, cán màu xám dài 7cm, lƣỡi dài 5,4cm; 01 gậy gỗ dài khoảng 60cm, đƣờng kính 2,5cm; 01 USB chứa dữ liệu.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Phan Thanh N và anh Đặng Văn B không yêu cầu bồi thƣờng.

Tại bản cáo trạng số 33/CT-VKSĐH-TA ngày 05 tháng 6 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới truy tố bị can Trƣơng Minh T về tội "Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự 2015.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới phát biểu lời luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị HĐXX kết tội bị cáo Trƣơng Minh T theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo khi quyết định hình phạt. Đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của BLHS xử phạt Trƣơng Minh T từ 30 đến 36 tháng tù cho hƣởng án treo thời gian thử thách 60 tháng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án đã tự thỏa thuận bồi thƣờng đầy đủ không có yêu cầu gì thêm nên miễn xét.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên Tịch thu tiêu hủy 01 con dao dài 12,4cm, cán màu xám dài 7cm, lƣỡi dài 5,4cm; 01 gậy gỗ dài khoảng 60cm, đƣờng kính 2,5cm; giao cho Tòa án lƣu giữ theo hồ sơ vụ án 01 USB chứa dữ liệu hình ảnh camera đã thu giữ.

Tại phiên tòa, Trƣơng Minh T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình nhƣ nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo đã nhận thấy sai phạm của mình, rất hối hận, ăn năn xin Hội đồng xét xử chiếu cố giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo hƣởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về nhiệm vụ, thẩm quyền, trình tự thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và ngƣời tham gia tố tụng khác không có ai có ý kiến khiếu nại; hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo là hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, các chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của ngƣời làm chứng. Do đó, Hội đồng xét xử thấy đã có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 21 giờ ngày 06/12/2019 tại Nhà hàng B, đƣờng P, thuộc TDP x, phƣờng N, Trƣơng Minh T dùng dao gây thƣơng tích cho anh Phan Thanh N và Đặng Văn B, dùng tay tát chị Bùi Thị Thiên H, chửi bới gây ồn ào, náo loạn ảnh hƣởng xấu đến an ninh, trật tự tại khu vực đƣờng P.

Theo kết luận giám định số 686/GĐ-PC09 ngày 12/5/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an an tỉnh Quảng Bình: Con dao T sữ dụng là dao bấm, là vũ khí có tính năng, tác dụng tƣơng tự vũ khí thô sơ (quy định tại khoản 6 Điều 3 Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hổ trợ năm 2017).

Hành vi của Trƣơng Minh T sử dụng vũ khí thô sơ gây thƣơng tích cho ngƣời khác mặc dù đã thỏa thuận dân sự, ngƣời bị gây thƣơng tích từ chối giám định, không yêu cầu xử lý nên không có căn cứ xem xét trách nhiệm hình sự về hành vi gây thƣơng tích; nhƣng hành vi của T xãy ra tại nơi công cộng, khu vực tập trung đông ngƣời gây ảnh hƣởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội đã phạm vào tội "gây rối trật tự công cộng" quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự năm 2015; cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ, đúng ngƣời đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hậu quả, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy rằng: Bị cáo là ngƣời trƣởng thành có đầy đủ sức khỏe và văn hóa để nhận thức pháp luật, nhƣng do coi thƣờng pháp luật, ý thức chấp hành kém mà thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội: Đã trực tiếp gây thiệt hại nghiêm trọng cho trật tự an toàn công cộng, vi phạm quy tắc sống lành mạnh cũng nhƣ hoạt động bình thƣờng của xã hội tại khu vực công cộng, gây bất bình trong dƣ luận nhân dân; làm mất ổn định an ninh trật tự của xã hội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm minh bằng pháp luật hình sự và cần phải áp dụng hình phạt tƣơng xứng mới có đủ tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, khi nghị án HĐXX cũng xem xét quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thƣờng thiệt hại cho ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; bị cáo có nhân thân tốt lần đầu phạm tội, gia đình bị cáo là ngƣời nuôi dƣỡng thân nhân và thờ cúng Liệt sỹ đƣợc UBND xã xác nhận; đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cƣ trú ổn định rõ ràng, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, nên áp dụng Điều 65 BLHS cho bị cáo hƣởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phƣơng nơi bị cáo cƣ trú quản lý giáo dục là phù hợp với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và chính sách nhân đạo của pháp luật Nhà nƣớc ta; tạo điều kiện cho bị cáo vừa cải tạo vừa đƣợc tham gia lao động giúp đỡ gia đình.

Về trách nhiệm dân sự: Giữa bị cáo và ngƣời liên quan đã tự nguyện thoả thuận bồi thƣờng 20.000.000 đồng, không có ai yêu cầu gì thêm nên miễn xét.

Về xử lý vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra cơ quan CSĐT công an thành phố Đồng Hới đã thu giữ 01 con dao dài 12,4cm, cán màu xám dài 7cm, lƣỡi dài 5,4cm; 01 gậy gỗ dài khoảng 60cm, đƣờng kính 2,5cm là công cụ dùng vào việc phạm tội không có giá trị nên bị tịch thu để tiêu hủy; 01 USB chứa dữ liệu đƣợc giao cho Tòa án lƣu giữ theo hồ sơ vụ án theo quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc Hội.

Bị cáo, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đƣợc quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Trƣơng Minh T phạm tội "Gây rối trật tự công cộng”.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 đã đƣợc sửa đổi bổ sung 2017;

Xử phạt: Trƣơng Minh T 30 tháng tù cho hƣởng án treo thời gian thử thách 60 tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 03/7/2020).

Giao bị cáo Trƣơng Minh Tuấn cho UBND xã V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trƣờng hợp ngƣời đƣợc hƣởng án treo thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, ngƣời đƣợc hƣởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc ngƣời đƣợc hƣởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hƣởng án treo.

2. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.

3. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao dài 12,4cm, cán màu xám dài 7cm, lƣỡi dài 5,4cm; 01 gậy gỗ dài khoảng 60cm, đƣờng kính 2,5cm. Giao cho Tòa án lƣu giữ theo hồ sơ vụ án 01 USB chứa dữ liệu (sau khi bản án có hiệu lực).

(Vật chứng hiện có tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đồng Hới có số lƣợng và đặc điểm theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra Công an TP. Đồng Hới và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình lập ngày 09/6/2020).

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Trƣơng Minh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nƣớc.

Bị cáo, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản sao án hoặc đƣợc tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ