- Tranh chấp gì? án hình sự — "L gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Phùng Chí Long phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK GLONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐẮK NÔNG Bản án số: 36/2020/HS-ST Ngày 12-8-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK GLONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Võ Văn Vinh
Các Hội thẩm nhân dân: ông Phạm Xuân Đức và ông Nguyễn Hoài Phương.
- Thư ký phiên tòa: ông Nông Đình Chiến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong tham gia phiên tòa: bà Cao Thị Thu Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 8 năm 2020, tại phòng xử án, Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 39/2020/TLST-HS ngày 25-6-2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2020/QĐXXST-HS ngày 05-7-2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2020/HSST-QĐ ngày 24-7-2020 đối với bị cáo:
Phùng Chí L, sinh năm 1985 tại tỉnh Đắk Lắk; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn 2, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; chỗ ở trước khi phạm tội: thôn Q, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phùng Văn K và bà Lê Thị H; bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 28-02-2020; có mặt.
- Bị hại: anh Nguyễn Văn K; nơi cư trú: thôn 7, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.
- Người tham gia tố tụng khác:
* Người làm chứng:
+ Chị Nguyễn Thị T; địa chỉ: thôn Q, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; vắng mặt.
+ Anh Đinh Ngọc T; địa chỉ: thôn Q, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; vắng mặt.
+ Anh Vi Văn T; địa chỉ: thôn Q, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; vắng mặt.
+ Anh Nguyễn Văn Q; địa chỉ: thôn Q, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; vắng mặt.
+ Anh Lê Thái B; địa chỉ: thôn Q, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; vắng mặt.
+ Anh Võ Trung T; địa chỉ: thôn Q, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; vắng mặt.
+ Anh Trần Thế Đ; địa chỉ: thôn 8, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 27-02-2020, Phùng Chí L cùng những người làm thuê cho bà Nguyễn Thị L gồm: Lê Thái B, Nguyễn Quốc D, Vi Văn T, Nguyễn Văn Q, Vi Văn T, Trần Thế Đ, Ngô Văn H và L (chưa rõ nhân thân, lai lịch) ngồi uống nước, chơi cờ tại sân lán của bà L ở thôn Q, xã Q, huyện Đ. Lúc này, chị Nguyễn Thị T và chồng là anh Đinh Ngọc T đang ở trong lán bên cạnh nghe thấy tiếng động. Nghĩ nhóm của L ném gạch, đá sang lán của mình nên chị T nói anh Nguyễn Như T (là người làm thuê cho vợ chồng chị T) sang lán của bà L dùng điện thoại quay phim lại thì xảy ra mâu thuẫn với Phùng Chí L. Sau đó, L cầm 01 dao phay đuổi T thì T chạy về lán của mình rồi hai người cãi nhau qua lại. Lúc này, anh Nguyễn Văn K cũng là người làm thuê cho vợ chồng chị T đi đến hỏi L “bên này ai ném đá qua lán tụi tao” thì L tiến lại gần dùng tay trái kẹp cổ anh K và nói “Ai ném đá vào nhà mày” rồi dùng tay phải cầm dao chém một nhát trúng vào mặt anh K gây thương tích. Bị chém, anh K vùng bỏ chạy về lán. Thấy vậy, những người làm thuê cùng anh K gồm: Th, Th và Võ Trung T cầm dao, gậy chạy ra đường, phía bên kia có L, B, Q, T, D và T1cũng cầm gậy, gạch, đá chạy ra, hai bên đánh, chửi nhau một lúc rồi tự giải tán.
Sau đó, anh Nguyễn Văn K có đơn yêu cầu khởi tố đối với Phùng Chí L gửi đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 96/TgT ngày 05-3-2020 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh Đắk Nông, kết luận thương tích của anh Nguyễn Văn K như sau: 01 sẹo vết thương phần mềm vùng mặt, tỷ lệ 06%. Vết thương được gây nên trực tiếp bởi vật sắc.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong đã thu giữ tại hiện trường 01 dao phay dài 40cm, chuôi bằng gỗ dài 15 cm, đường kính 02 cm, mũi dao bằng do Phùng Chí L dùng chém anh Nguyễn Văn K.
Ngoài ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong còn thu giữ một số đồ vật khác.
Về trách nhiệm dân sự: anh Nguyễn Văn K yêu cầu Phùng Chí L bồi thường theo quy định của pháp luật.
Tại bản cáo trạng số 42/CT-VKS, ngày 24-6-2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong truy tố Phùng Chí L về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong, thừa nhận bị truy tố về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là không oan.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong sau khi phân tích nội dung và các tình tiết của vụ án, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Tuyên bố Phùng Chí L phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Vật chứng: đối với 01 dao phay (dài 40cm, chuôi bằng gỗ dài 15 cm, đường kính 02 cm, mũi dao bằng) do Phùng Chí L dùng chém anh Nguyễn Văn K cần tịch thu, tiêu hủy. Đối với các hành vi khác đang tiếp tục điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong không chuyển đồ vật nên không đề cập. Về trách nhiệm dân sự: buộc Phùng Chí L bồi thường cho anh Nguyễn Văn K số tiền 15.300.000 đồng.
Khi tranh luận, bị cáo không có ý kiến, bào chữa, đề nghị hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập lưu trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận: vào khoảng 18 giờ ngày 27-02-2020, tại thôn Q, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, do mâu thuẫn nên Phùng Chí L đã dùng dao là “Hung khí nguy hiểm” chém vào mặt anh Nguyễn Văn K gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 06%; anh K có đơn yêu cầu khởi tố. Do đó, hành vi của bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Như vậy, quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong đối với bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.
Tại Điều 134 của Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;
…”
[3] Hành vi của bị cáo ít nghiêm trọng nhưng nguy hiểm cho xã hội. Tính mạng, sức khỏe của con người được pháp luật coi trọng và bảo vệ. Hành vi xâm hại đến sức khỏe của người khác bị pháp luật nghiêm cấm và trừng trị. Bị cáo không những gây thương tích cho anh Nguyễn Văn K mà còn gây tâm lý hoang mang lo lắng cho quần chúng nhân dân nên cần áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, do đó có căn cứ áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên cần xem xét khi quyết định hình phạt.
[5] Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử còn xét thấy tình hình tranh chấp đất đai liên quan đến đất rừng ở địa phương rất phức tạp, bị cáo là người ở địa phương khác được bà Nguyễn Thị L thuê để bảo vệ tài sản nhưng lại làm mất an ninh chính trị nên cần áp dụng mức hình phạt tương xứng quy định tại khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự và cách ly bị cáo với xã hội một thời gian nhất định mới đảm bảo được mục đích của hình phạt.
[6] Vật chứng: đối với 01 dao phay (dài 40cm, chuôi bằng gỗ dài 15 cm, đường kính 02 cm, mũi dao bằng) do Phùng Chí L dùng chém anh Nguyễn Văn K là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu, tiêu hủy. Đối với các hành vi khác đang tiếp tục điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong không chuyển đồ vật nên không đề cập.
[7] Trách nhiệm dân sự: anh Nguyễn Văn K yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 15.300.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo chấp nhận nên cần áp dụng Điều 584, 585, 590 của Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo bồi thường cho anh K số tiền 15.300.000 đồng là có căn cứ.
[8] Trong vụ án này, sau khi Phùng Chí L dùng dao chém anh Nguyễn Văn K bị thương thì 02 nhóm người của Long và anh Kiều lao vào đánh nhau. Hậu quả: anh Vi Văn Tư bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể 06%; tài sản của gia đình anh Đinh Ngọc Thủy bị hư hỏng gồm: 01 bình ắc quy, 02 bồn nước, 01 tủ đựng chén bát, 01 tủ đựng đồ, 06 tấm tôn thưng vách nhà, 01 cánh cửa và 01 thanh sắt với tổng giá trị thiệt hại là 13.114.280 đồng. Tuy nhiên các đối tượng đã bỏ đi, nên chưa xác định người gây thiệt hại. Do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong đang giải quyết riêng bằng 01 tin báo tố giác về tội phạm khác nên không đề cập.
[9] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: bị cáo Phùng Chí Long phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Phùng Chí Long 07 (bảy) tháng tù, tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 28-2-2020.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, Điều 585, Điều 590 của Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo Phùng Chí Long phải bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm hại cho anh Nguyễn Văn Kiều số tiền là 15.300.000đ (Mười lăm triệu, ba trăm nghìn đồng). Khi bản án có hiệu lực pháp luật, nếu bị hại có đơn yêu cầu thi hành án mà bị cáo không thực hiện việc bồi thường số tiền trên thì còn phải chịu tiền lãi theo quy định của pháp luật.
3. Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu, tiêu hủy 01 dao phay (dài 40cm, chuôi bằng gỗ dài 15 cm, đường kính 02 cm, mũi dao bằng) theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30-6-2020 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk Glong.
4. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc Phùng Chí Long phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự và 765.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Nông; - VKSND tỉnh Đắk Nông; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông; - VKSND huyện Đắk Glong; - Công an huyện Đắk Glong; - Bộ phận hồ sơ Công an huyện Đắk Glong; - Chi cục THADS huyện Đắk Glong; - UBND xã (phường) nơi bị cáo cư trú (để biết); - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Văn Vinh |