vanban.org

Bản án 36/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Hùng Thu H và ông Huỳnh Văn H.

Giấy chứng nhận kết hôn số 62/HT, quyển số I/96, ngày 26/6/1996 do Ủy ban nhân dân thị trấn Tân Châu, huyện Tân Châu, nay là Ủy ban nhân dân phường Long Thạnh, thị xã Tân Châu) cấp cho bà Hùng Thu H và ông Huỳnh Văn H không còn giá trị pháp lý. Về nuôi con chung: Có 03 con chung tên Huỳnh Hùng K, si… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Hùng Thu H và ông Huỳnh Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TÂN CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 36/2020/HNGĐ-ST
Ngày 19 - 02 - 2020
V/v tranh chấp Hôn nhân và Gia
đình, ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hữu Dẫm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Thanh Hùng;

2. Ông Lê Văn Vẹn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Công Minh là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bảo Thịnh - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 347/2019/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 8 năm 2019 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và Gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 643/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2019; quyết định hoãn phiên tòa số 18/2020/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 01 năm 2020 và Quyết định về việc thay đổi người tiến hành tố tụng số 30/2020/QĐCA-TA ngày 18/02/2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Hùng Thu H, sinh năm: 1960. Nơi cư trú: Tổ 8, khóm Long Thị D, phường Long Thạnh, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang. Chỗ ở hiện nay: Số 9, đường PASTEUR, khóm Long Thị B, phường Long Hưng, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang (có mặt);

- Bị đơn: Ông Huỳnh Văn H, sinh năm: 1947. Nơi cư trú: Khóm Long Hưng 1, phường Long Sơn, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang. Chỗ ở hiện nay: Số 13, đường Ngô Quyền, khóm Long Thạnh A, phường Long Thạnh, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Hùng Thu H trình bày:

- Về hôn nhân: Bà Hùng Thu H và ông Huỳnh Văn H tự tìm hiểu và yêu thương, sau đó được sự đồng ý cha, mẹ hai bên dẫn đến tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 1977, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn trễ hạn vào ngày 26/6/1996 (theo giấy chứng nhận kết hôn số 62/HT, quyển số I/96, ngày 26/6/1996 do Ủy ban nhân dân thị trấn Tân Châu, huyện Tân Châu, nay là Ủy ban nhân dân phường Long Thạnh, thị xã Tân Châu cấp cho bà Hùng Thu H và ông Huỳnh Văn H). Cuộc sống hạnh phúc của vợ chồng kể từ khi kết hôn đến 27 năm sau thì xảy ra mâu thuẫn và không còn chung sống từ năm 2004 đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn là tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi nhau.

Từ khi vợ chồng không còn chung sống với nhau thì bà H và ông H có liên hệ và gặp nhau để hàn gắn tình cảm vợ chồng về sống chung với nhau nhưng không thành, kể cả gia đình cha, mẹ hai bên cũng có gặp nhau để bàn bạc cho vợ chồng bà H, ông H về sống chung lại với nhau nhưng vẫn không thành. Nay bà H nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn sống chung với nhau được và bà H yêu cầu xin ly hôn với ông H.

- Về con chung: Có 03 con chung tên Huỳnh Hùng K, sinh ngày 01/01/1979; Huỳnh Hùng H1, sinh ngày 10/10/1982 và Huỳnh Hùng H2, sinh ngày 09/11/1991 đã trưởng thành.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, nên bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tòa án đã thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho ông Huỳnh Văn H đến Tòa án để cung cấp lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông H vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được vụ án.

Tại phiên tòa hôm nay: Bà Hùng Thu H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

- Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự chấp hành thủ tục tố tụng từ khi thụ lý đến khi xét xử đã thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 48, 70, 71, 72, 203 và Điều 239 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn ông Huỳnh Văn H đã được Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu triệu tập hợp lệ đến phiên Tòa xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông Huỳnh Văn H.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận bà Hùng Thu H được ly hôn ông Huỳnh Văn H; về con chung: Có 03 con chung tên Huỳnh Hùng K, sinh ngày 01/01/1979; Huỳnh Hùng H1, sinh ngày 10/10/1982 và Huỳnh Hùng H2, sinh ngày 09/11/1991 đã trưởng thành; về tài sản chung và nợ chung: Không có, đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Nếu sau này giữa bà H và ông H có phát sinh tranh chấp về tài sản chung và nợ chung sẽ giải quyết bằng vụ kiện khác.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Nguyên đơn, bà Hùng Thu H chịu án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền: Bà Hùng Thu H có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Huỳnh Văn H, có đăng ký hộ khẩu thường trú tại khóm Long Hưng 1, phường Long Sơn, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang. Chỗ ở hiện nay: Số 13, đường Ngô Quyền, khóm Long Thạnh A, phường Long Thạnh, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn ông Huỳnh Văn H đã được Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu triệu tập hợp lệ đến phiên Tòa xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông Huỳnh Văn H.

Về hôn nhân: Bà H và ông H tự tìm hiểu và yêu thương, sau đó được sự đồng ý cha, mẹ hai bên dẫn đến tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 1977, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn trễ hạn vào ngày 26/6/1996 theo giấy chứng nhận kết hôn số 62/HT, quyển số I/96, ngày 26/6/1996 do Ủy ban nhân dân thị trấn Tân Châu, huyện Tân Châu, nay là Ủy ban nhân dân phường Long Thạnh, thị xã Tân Châu) cấp cho bà Hùng Thu H và ông Huỳnh Văn H. Tại thời điểm kết hôn bà H và ông H đã đủ độ tuổi và có đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, do vậy đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Nên được pháp luật bảo vệ.

Sau khi kết hôn, bà H và ông H chung sống hạnh phúc đến năm 2004 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn bà H cho rằng tình cảm vợ chồng không còn, sống không hợp nhau, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng vợ chồng bất đồng quan điểm và không còn chung sống từ năm 2004 cho đến nay. Nay bà H yêu cầu ly hôn với ông H.

Hội đồng xét xử, xét thấy bà H và ông H phát sinh mâu thuẫn từ năm 2004. Do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn xuất phát từ tiền bạc, bất đồng ý kiến về tài chính và trong thời gian không còn chung sống, ông, bà không tạo điều kiện thăm nom, hàn gắn tình cảm vợ chồng và suốt thời gian Tòa án xem xét giải quyết vụ án, ông H không gửi tự khai trình bày ý kiến cũng không đến Tòa án tham dự phiên hòa giải, phiên tòa thể hiện sự không quan tâm đối với yêu cầu ly hôn của bà H. Điều đó cho thấy tình trạng hôn nhân của ông, bà đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nếu duy trì cuộc hôn nhân này cũng không đem lại hạnh phúc cho cả hai. Do đó, căn cứ Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H.

Về nuôi con chung: Có 03 con chung tên Huỳnh Hùng K, sinh ngày 01/01/1979; Huỳnh Hùng H1, sinh ngày 10/10/1982 và Huỳnh Hùng H2, sinh ngày 09/11/1991 đã trưởng thành.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà H trình bày, bà và ông H không có tài sản chung và nợ chung, bà không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết. Nếu sau này giữa bà H và ông H có phát sinh tranh chấp về tài sản chung và nợ chung sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Hùng Thu H chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng.

Qua phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật về quan điểm giải quyết vụ án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 273, Điều 278 và khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều, Điều 56, Điều 57 và Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Điều 2, Điều 6, Điều 7, Điều 9 và Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Hùng Thu H và ông Huỳnh Văn H.

Giấy chứng nhận kết hôn số 62/HT, quyển số I/96, ngày 26/6/1996 do Ủy ban nhân dân thị trấn Tân Châu, huyện Tân Châu, nay là Ủy ban nhân dân phường Long Thạnh, thị xã Tân Châu) cấp cho bà Hùng Thu H và ông Huỳnh Văn H không còn giá trị pháp lý.

2. Về nuôi con chung: Có 03 con chung tên Huỳnh Hùng K, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1979; Huỳnh Hùng H1, sinh ngày 10 tháng 10 năm 1982 và Huỳnh Hùng H2, sinh ngày 09 tháng 11 năm 1991 đã trưởng thành.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, bà Hùng Thu H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Hùng Thu H chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001800 ngày 26/8/2019 của Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Tân Châu.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ