- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa ông Tào Hữu D với bà Nguyễn Thị Ngọc T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa ông Tào Văn Hữu D và bà Nguyễn Thị Ngọc T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2020/HNGĐ-ST Ngày: 28-4-2020 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Triều.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Kim Huệ.
Bà Phạm Hồng Ân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Châu Sơn là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Ông Huỳnh Văn Kil - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 67/2020/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2020 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2020/QĐXXST-HNGĐ, ngày 10 tháng 3 năm 2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Tào Văn Hữu D, sinh năm 1983.
Cư trú tại: Số X đường M, tổ Y, C, phương V, thành phố C, tỉnh An Giang.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1992 (vắng mặt).
Cư trú tại: Khóm X, thị trấn C, huyện P, tỉnh Cà Mau.
Ông Tào Văn Hữu D có đơn đề nghị tòa án xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 27 tháng 02 năm 2020 nguyên đơn ông Tào Văn Hữu D trình bày: Ông và bà Nguyễn Thị Ngọc T tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn vào năm 2014 tại Ủy ban nhân dân thị trấn Cái Đôi Vàm, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Trong quá trình chung sống vợ chồng có nhiều bất hòa, mâu thuẫn trầm trọng do không cùng quan điểm, mục đích của hôn nhân không đạt được nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Nguyễn Thị Ngọc T. Trong quá trình chung sống ông và bà T có một người con chung tên Tào Thành P, sinh ngày 29 tháng 12 năm 2015, con chung đang do bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn ông yêu cầu giao con chung cho bà T trực tiếp nuôi con chung, ông không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung không có không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tại bản tự khai ngày 27 tháng 02 năm 2020 bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc T trình bày: Bà và ông Tào Văn Hữu D tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2014, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Trong quá trình chung sống vợ chồng luôn cố gắng xây dựng hạnh phúc gia đình, nhưng nhiều lần xảy ra mâu thuẫn dù hai bên gia đình đã nhiều lần hòa giải nhưng không thể hàn gắn được vợ chồng không còn chung sống với nhau từ năm 2017 đến nay nên bà đồng ý ly hôn theo yêu cầu của ông Tào Văn Hữu D. Bà và ông D có một người con chung tên Tào Thành P, sinh ngày 29 tháng 12 năm 2015, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông Tào Văn Hữu D, cho ông Tào Văn Hữu D ly hôn với bà Nguyễn Thị Ngọc T, giao con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Ông Tào Văn Hữu D yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với bà Nguyễn Thị Ngọc T, yêu cầu giải quyết việc nuôi con chung. Do đó, đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng.
Về sự vắng mặt của đương sự: Ông Tào Văn Hữu D là nguyên đơn đã có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt ông Tào Văn Hữu D. Bà Nguyễn Thị Ngọc T là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị Ngọc T.
Về quan hệ hôn nhân : Ông Tào Văn Hữu D với bà Nguyễn Thị Ngọc T tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn vào năm 2012 tại Ủy ban nhân dân thị trấn Cái Đôi Vàm, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau nên hôn nhân của ông Tào Văn Hữu D với bà Nguyễn Thị Ngọc T là hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Ông Tào Văn Hữu D yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với bà Nguyễn Thị Ngọc T vì trong cuộc sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn; tại bản tự khai ngày 27 tháng 02 năm 2020 bà T cho rằng trong cuộc sống vợ chồng đã P sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng không còn chung sống với nhau từ năm 2017 đến nay và đồng ý ly hôn với ông Tào Văn Hữu D. Điều này cho thấy vợ chồng không còn thương yêu, chăm sóc, giúp đở lẫn nhau nên tình trạng hôn nhân giữa ông Tào Văn Hữu D với bà Nguyễn Thị Ngọc T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông Tào Văn Hữu D về việc yêu cầu ly hôn với bà Nguyễn Thị Ngọc T.
Về quyền nuôi con chung: Trong quá trình chung sống ông Tào Văn Hữu D với bà Nguyễn Thị Ngọc T có một người con chung tên Tào Thành P, sinh ngày 29 tháng 12 năm 2015, con chung do bà T đang trực tiếp nuôi dưỡng, Tại đơn khởi kiện ông Tào Văn Hữu D yêu cầu giao con chung bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Tại bản tự khai ngày 27 tháng 02 năm 2020 bà Nguyễn Thị Ngọc T đồng ý trực tiếp nuôi con chung. Xét thấy sự thỏa thuận giữa ông D và bà T là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, không vi phạm điều cấm của luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận của ông D và bà T, giao người con chung tên Tào Thành P, sinh ngày 29 tháng 12 năm 2015 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Ông D có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở. Bà T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung ông Tào Văn Hữu D, bà Nguyễn Thị Ngọc T không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân đề nghị như nêu trên là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm ông D phải chịu 300.000đ, ông D đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000đ được chuyển thu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 điều 35; điểm a khoản 1 điều 39, Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa ông Tào Văn Hữu D và bà Nguyễn Thị Ngọc T.
- Về quyền nuôi con chung: Giao người con chung tên Tào Thành P, sinh ngày 29 tháng 12 năm 2015 cho bà Nguyễn Thị Ngọc T trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Tào Văn Hữu D có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
- Về án phí: Ông Tào Văn Hữu D phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000đ, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu tiền số 0019926 ngày 27 tháng 02 năm 2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân; ông D đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm , ông Tào Văn Hữu D và bà Nguyễn Thị Ngọc T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau; - Chi CụcTHADS huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau; - Các đương sự; - UBND thị trấn C, huyện P, tỉnh Cà Mau; - Lưu hồ sơ, văn thư. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Việt Triều |