vanban.org

Bản án 36/2020/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị B về việc “Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản”.

Buộc bà Huỳnh Thị T phải có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị B số tiền còn nợ là 53.272.000 đồng (Năm mươi ba triệu hai trăm bảy mươi hai nghìn) đồng. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Bà Nguyễn Thị B yêu cầu bà Nguyễn Thị T phải trả số tiền vay là 53.272.000 đồng"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị B về việc “Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẾ SƠN
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2020/DS-ST
Ngày: 17-9-2020
V/v: “Tranh chấp về hợp đồng
vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Võ Văn Thể.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Văn Thái.

2. Ông Lê Văn Thêm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Liêm, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 01/2020/TLST-DS ngày 07 tháng 01 năm 2020 về việc “Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2020/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 7 năm 2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 90/2020/QĐST-DS ngày 26 tháng 8 năm 2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1957.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1954 (theo Giấy ủy quyền ngày 29/4/2020). Có mặt.

Cùng địa chỉ: Thôn Ph, xã Q, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.

- Bị đơn: Bà Huỳnh Thị T, sinh năm 1966. Vắng mặt.

Địa chỉ: Tổ dân phố L, thị trấn Đ, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1954. Có mặt.

Địa chỉ: Thôn Ph, xã Q, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.

+ Ông Bùi Văn M, sinh năm 1962. Vắng mặt.

Địa chỉ: Tổ dân phố L, thị trấn Đ, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 03/01/2020, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - ông Nguyễn Văn C trình bày:

Vào ngày 15/9/2015, bà T có vay của bà B số tiền 102.753.000 đồng. Số tiền trên là tài sản riêng của bà B cho bà T vay, ông không biết và không liên quan đến. Sau khi vay tiền, do điều kiện kinh tế khó khăn nên bà T xin trả góp theo ngày. Đến tháng 6 năm 2018, bà T đã trả góp cho bà B được 49.481.000 đồng, hiện bà T còn nợ bà B số tiền 53.272.000 đồng. Bà B đã nhiều lần yêu cầu bà T trả nợ nhưng đến nay bà T vẫn chưa trả. Nay bà B yêu cầu bà T phải có nghĩa vụ trả cho bà số tiền 53.272.000 đồng, bà không yêu cầu tính lãi. Ngoài ra, ông C không trình bày và yêu cầu gì thêm.

Tại bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 10/7/2020, bị đơn - bà T trình bày: Bà thừa nhận có nợ tiền bà B và bà đã trả dần cho bà B đến năm 2018 còn nợ lại 53.247.000 đồng. Do điều kiện kinh tế khó khăn nên bà chưa trả tiếp cho bà B được, bà xin hẹn đến cuối năm 2020 sẽ trả 50% số tiền nợ trên, số tiền còn lại bà sẽ trả dứt điểm vào cuối năm 2021. Ngoài ra, bà không trình bày gì thêm.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 11/5/2020, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - ông M trình bày: Bà T có nói với ông bà còn nợ bà B số tiền 53.272.000 đồng, nhưng ông không rõ thời gian vay tiền và mục đích bà T vay tiền để làm gì. Khi vay tiền bà T không bàn bạc với ông nên đây là khoản nợ riêng của bà T, không liên quan đến ông. Ông sẽ có trách nhiệm đôn đốc bà T trả nợ.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Nguyên đơn, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn C đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình; bị đơn - bà T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - ông M không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227 và Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 157, 429, 463, 466 và Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng: Nơi cư trú của bà T tại Tổ dân phố L, thị trấn Đ, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam. Bà B yêu cầu bà T trả số tiền vay còn nợ là 53.272.000 đồng. Do đó, quan hệ pháp luật giải quyết là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bà T và ông M có đơn xin xét xử vắng mặt, do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người này là đảm bảo quy định tại khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự,

Về nội dung:

Về áp dụng pháp luật để giải quyết vụ án:

Giao dịch dân sự được xác lập trước ngày Bộ luật dân sự 2015 có hiệu lực thi hành nhưng do giao dịch đang được thực hiện, có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự 2015 nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các quy định tương ứng về tranh chấp hợp đồng vay tài sản của Bộ luật dân sự 2015 để giải quyết là phù hợp với điều khoản chuyển tiếp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 688 Bộ luật dân sự 2015.

Về giao dịch giữa các bên đương sự:

Tại Giấy ghi nợ ngày 15/9/2015, bà T xác nhận còn nợ bà B số tiền 102.753.000 đồng. Bà B cho rằng đến tháng 6 năm 2018, bà T đã trả cho bà được 49.481.000 đồng, số tiền còn lại bà yêu cầu bà T có nghĩa vụ trả cho bà là 53.272.000 đồng. Tại bản tự khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Quế Sơn bà T thừa nhận còn nợ bà B số tiền 53.278.000 đồng. Tại bản tự khai gửi Tòa án ngày 05/02/2020, bà khai số tiền bà nợ bà B là 120.000.000 đồng và bà đã trả đến năm 2018 bà còn nợi lại số tiền hơn 50.000.000 đồng; tại đơn xin xét xử vắng mặt ngày 10/7/2020, bà T trình bày còn nợ bà B số tiền 53.247.000 đồng. Xét thấy, lời khai của bà T có khác nhau về số tiền nợ bà B, thể hiện bà T không nhớ chính xác số tiền còn nợ bao nhiêu nhưng lời khai của bà T phù hợp với yêu cầu của bà B và các giấy ghi số tiền nợ mà bà B cung cấp. Ngoài ra, tại biên bản lấy lời khai ngày 11/5/2020, ông Bùi Văn M (chồng bà T) khai bà T nói với ông bà còn nợ bà B số tiền 53.272.000 đồng. Như vậy, việc khởi kiện của bà B là có căn cứ và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bà T đều vắng mặt không có lý do nên không thể tổ chức phiên họp tiếp cận C khai chứng cứ và hòa giải được.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử có căn căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Huỳnh Thị T phải có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị B số tiền 53.272.000 đồng là phù hợp với quy định tại Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự 2015.

Về lãi suất: Nguyên đơn không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn C (chồng bà B) và ông Bùi Văn M (chồng bà T) đều cho rằng việc vay tiền giữa bà B và bà T các ông không biết và không liên quan đến khoản vay này. Ông M cho rằng khi bà T vay tiền của bà B không có bàn bạc với ông và bà T sử dụng tiền vay vào mục đích gì ông đều không biết nên không có cơ sở buộc ông M phải có nghĩa vụ liên đới cùng bà T trả nợ cho bà B.

Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463, 466 và Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị B về việc “Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản”.

1. Buộc bà Huỳnh Thị T phải có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị B số tiền còn nợ là 53.272.000 đồng (Năm mươi ba triệu hai trăm bảy mươi hai nghìn) đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Huỳnh Thị T phải chịu là 2.663.600 (Hai triệu sáu trăm sáu mươi ba nghìn sáu trăm) đồng.

Bà Nguyễn Thị B là người cao tuổi nên được miễn nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

3. Về quyền kháng cáo: Đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (17-9-2020); đương sự không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ