- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng hợp tác — án dân sự — "Chị Đ tranh chấp hợp đồng bơm tưới với ông V"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Đ - Chủ đầu tư bơm tưới ô đê bao số 38 thuộc ấp 4, xã BS.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CL TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2020/DS-ST. Ngày: 24-8-2020. V/v Tranh chấp dân sự hợp đồng dịch vụ bơm tưới |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CL, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Võ Thị Ngọc Minh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Phước Tâm.
2. Bà Hồ Thị Mai Hương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Tấn Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân huyện CL, tỉnh Đồng Tháp.
Ngày 24/8/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện CL xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 444/2020/TLST-DS, ngày 05 tháng 6 năm 2020 về việc: “Tranh chấp dân sự hợp đồng dịch vụ bơm tưới” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 139/2020/QĐXXST-DS ngày 08/7/2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 94/2020/QĐST-DS ngày 25/7/2020, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1974
Là chủ đầu tư bơm tưới ô đê bao số 38 thuộc ấp 4, xã BS, huyện CL, tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ: ấp 3, xã BS, huyện CL, tỉnh Đồng Tháp.
Bị đơn: Lê Quang V, sinh năm 1956
Địa chỉ: ấp 4, xã BS, huyện CL, tỉnh Đồng Tháp.
(Bà Đ, ông V có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm bà Nguyễn Thị Đ là nguyên đơn trình bày:
Bà Đ có đấu giá mua tổ kinh tế hợp tác bơm tưới ô đê bao số 38 ấp 4, xã BS và được giao nhận tài sản vào ngày 13/02/2019 tại ấp 4, xã BS, huyện CL, tỉnh Đồng Tháp và theo quyết định thành lập chủ đầu tư bơm tưới ô đê bao số 38, ấp 4, xã BS của UBND xã BS số 15/QĐ-UBND ngày 09/03/2020.
Sau khi nhận tài sản là ô bơm tưới ô số 38 thuộc ấp 4, xã BS, huyện CL, tỉnh Đồng Tháp. Bà Đ đã tiến hành họp dân trong ô đê bao, trong cuộc họp bà con đã thống nhất lệ phí bơm nước là 145.000 đồng cho 1.000 m2 cho ba năm đầu và lệ phí là 140.000 đồng cho hai năm sau với điều kiện bà Đ phải chịu thuê kobe về nạo vét thủy lợi nội đồng. Bà Đ đã thực hiện đúng theo cuộc họp là thuê Kobe về nạo vét thủy lợi nội đồng.
Trong ba vụ vừa qua bà Đ đã phục vụ bơm tưới cho cho 57 hộ trong ô đê bao số 38 rất hiệu quả. Nhưng vụ Đông – Xuân, Hè – Thu năm 2019-2020, chỉ có 03 hộ trong đó có ông Lê Quang V không chịu trả tiền lệ phí bơm nước cho bà Đ, diện tích đất của ông V là 20.958m2 x 145.000 đồng x 2 vụ = 6.076.000 đồng (Sáu triệu không trăm bảy mươi sáu nghìn đồng). Ông V vẫn xuống giống và lấy nước của trạm bơm theo đúng lịch và xuống giống theo đúng tập thể.
Bà Đ đã nhiều lần nhắc nhở ông V yêu cầu ông V trả tiền cho bà Đ nhưng đến nay ông V vẫn không trả.
Nay bà Nguyễn Thị Đ yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau: Buộc ông Lê Quang V trả cho bà Đ số tiền 6.076.000 đồng (Sáu triệu không trăm bảy mươi sáu nghìn đồng), không yêu cầu tính lãi suất.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn ông Lê Quang V: Ông Lê Quang V thừa nhận có cánh tác 20.958m2 đất ruộng trong ô bơm tưới ô số 38 thuộc ấp 4, xã BS, huyện CL, tỉnh Đồng Tháp. Ông V không nhận được giấy mời từ chủ đầu tư bơm tưới ô đê bao số 38 nhưng có tham gia họp dân để thỏa thuận giá dịch vụ bơm tưới. Trong cuộc vuộc họp thì ông V không ý giá 145.000 đồng/1000 m2 . Nhưng bà con đồng ý. Ông V không ký hợp đồng bơm tưới với chủ đầu tư. Tuy nhiên, ông V vẫn canh tác trên diện tích 20.958m2 đã được 04 vụ. Ông không tự bơm nước từ ngoài sông mà sử dụng nước từ trạm bơm của bà Nguyễn Thị Đ - Là chủ đầu tư bơm tưới ô đê bao số 38 thuộc ấp 4, xã BS, huyện CL, tỉnh Đồng Tháp để canh tác.
Hai vụ đầu, ông V có đóng cho bà Đ số tiền 20.958m2 x 145.000 đồng x 2 là 6.076.000 đồng. Hai vụ sau, ông V cho rằng giá bơm nước 145.000đồng/1000 m2 quá cao, do đó ông không đồng ý đóng lệ phí bơm nước với giá 145.000 đồng/1000 m2 như thỏa thuận ban đầu. Ông V có nói với tổ kinh tế hợp tác bơm tưới về việc thay đổi giá bơm tưới nhưng không có làm biên bản về việc thỏa thuận lại giá. Ông V chỉ đồng ý đóng tiền lệ phí bơm nước với giá 125.000 đồng/1000 m2 nên ông V không đồng ý trả cho bà Đ số tiền 6.076.000 đồng (Sáu triệu không trăm bảy mươi sáu nghìn đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ - Là chủ đầu tư bơm tưới ô đê bao số 38 yêu cầu bị đơn ông Lê Quang V trả số tiền 6.076.000 đồng (Sáu triệu không trăm bảy mươi sáu nghìn đồng). Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là là hợp đồng dân sự dịch vụ bơm tưới theo quy định tại Điều 518 của Bộ luật dân sự
[2] Về thẩm quyền giải quyết: Theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự thì tranh chấp giữa các đương sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân và do bị đơn có địa chỉ ở ấp 4, xã BS, huyện CL, tỉnh Đồng Tháp nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện CL theo quy định tại Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
[3] Xét yêu cầu của bà Nguyễn Thị Đ yêu cầu anh ông Lê Quang V phải có nghĩa vụ trả cho bà số tiền thủy lợi phí còn nợ là 6.076.000 đồng (Sáu triệu không trăm bảy mươi sáu nghìn đồng), không yêu cầu tính lãi, Hội đồng xét xử xét thấy:
[4] Căn cứ vào Quyết định số 15/QĐ –UBND ngày 09 tháng 3 năm 2020 về việc thành lập chủ đầu tư bơm tưới ô đê bao số 38, ấp 4 xã BS có nhiệm vụ tổ chức bơm tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp cho các hộ nông dân, trong đó có ông Lê Quang V. Theo trình bày của hai bên thì ông V là người có diện tích đất 20.958m2 nằm trong ô đê bao số 38, mà ô đê bao này do bà Nguyễn Thị Đ là chủ đầu tư bơm tưới, là đơn vị thực hiện việc tưới tiêu theo thời vụ. Bà Đ và ông V thống nhất ông V còn nợ tiền bơm tưới vụ Đông – Xuân và vụ Hè – Thu năm 2019-2020, số tiền 6.076.000 đồng, nhưng ông V không đồng ý trả số tiền trên vì ông không đồng ý đóng lệ phí bơm nước với giá 145.000 đồng/1000 m2. Ông V thừa nhận ông không tự bơm nước từ ngoài sông mà sử dụng nước từ trạm bơm của bà Nguyễn Thị Đ - Là chủ đầu tư bơm tưới ô đê bao số 38 thuộc ấp 4, xã BS để canh tác. Bên cạnh đó ông có đóng tiền thủy lợi phí cho bà Đ hai vụ với số tiền 6.076.000 đồng. Do đó lời trình bày của ông V là không có cơ sở chấp nhận.
[5] Từ những căn cứ nêu trên, việc bà Nguyễn Thị Đ là chủ đầu tư bơm tưới ô đê bao số 38 ấp 4, xã BS khởi kiện yêu cầu ông Lê Quang V phải có nghĩa vụ trả cho bà số tiền thủy lợi phí còn nợ là 6.076.000 đồng (Sáu triệu không trăm bảy mươi sáu nghìn đồng) là phù hợp với pháp luật.
[6] Do đó, ông Lê Quang V phải có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Đ số tiền thủy lợi phí còn nợ là 6.076.000 đồng (Sáu triệu không trăm bảy mươi sáu nghìn đồng).
[7] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng, án phí, lệ phí Tòa án do yêu cầu của bà Nguyễn Thị Đ - Chủ đầu tư bơm tưới ô đê bao số 38 thuộc ấp 4, xã BS được chấp nhận nên ông Lê Quang V phải chịu 303.800 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Nhưng do ông Vin là người cao tuổi nên được miễn.
Bà Nguyễn Thị Đ - Là chủ đầu tư bơm tưới ô đê bao số 38 thuộc ấp 4, xã BS không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Đ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0003719 ngày 03/6/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện CL.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 518 Bộ Luật dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Đ - Chủ đầu tư bơm tưới ô đê bao số 38 thuộc ấp 4, xã BS.
- Buộc ông Lê Quang V phải có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Đ - Chủ đầu tư bơm tưới ô đê bao số 38 thuộc ấp 4, xã BS số tiền thủy lợi phí còn nợ là 6.076.000 đồng (Sáu triệu không trăm bảy mươi sáu nghìn đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
- Về án phí:
Lê Quang V phải chịu 303.800 tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng ông V là người cao tuổi nên được miễn.
Bà Nguyễn Thị Đ - Chủ đầu tư bơm tưới ô đê bao số 38 thuộc ấp 4, xã BS không phải chịu án phí và được nhận lại số tiền
300.000 đồng theo biên lai số 0003719 ngày 03/6/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện CL.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKS HCL; - Toà án Tỉnh; - Lưu: HSVA (M). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Võ Thị Ngọc Minh |