- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH LONG TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2019/HSST Ngày: 22/8/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH LONG – TỈNH BÌNH PHƯỚC
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Đức
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Mạnh Biện
Ông Điểu Hải
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Ngọc Mai Phương – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bình Long.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Minh Dung – Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 22 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước. Tòa án nhân dân thị xã Bình Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 40/2019/HSST ngày 18 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T, sinh năm 1988; Nơi đăng ký cư trú và chổ ở: Tổ 02, khu phố P T, phường P Đ, thị xã B L, tỉnh Bình Phước; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh: Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1952 và bà Nguyễn Ngọc B, sinh năm 1953; Có 06 anh em, lớn nhất sinh năm 1971, nhỏ nhất là bị cáo; Có vợ tên Trần Hồng L, sinh năm 1987 và có 01 người con sinh năm 2013; Tiền sự: không; Tiền án: Ngày 10/8/2017, bị Tòa án nhân dân thị xã Bình Long xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 21/2017/HSST, chấp hành xong hình phạt ngày 20/12/2017; Ngày 26/3/2019, thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, ngày 03/5/2019 bị khởi tố bị can và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt.
Bị hại: Bà Đinh Thị S, sinh năm 1980 (Có đơn xin vắng mặt)
Nơi cư trú: Tổ 7, khu phố H T, phường H C, thị xã B L, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 26/3/2019, bị cáo đi qua đoạn đường Lý Thường Kiệt thuộc tổ 01, khu phố P N, phường P Đ, thị xã B L thì phát hiện bên trong quán ăn biển hiệu “Bảo Linh” do bà Đinh Thị S làm chủ không khóa cửa, bên trong có một chồng ghế bằng nhựa có lưng tựa màu đỏ không có người trông coi, bị cáo nảy sinh ý định chiếm đoạt số ghế trên bán lấy tiền mua ma túy sử dụng. Bị cáo kéo tấm lưới B40 chắn ở cửa ra, lén lút đi vào lấy 09 (Chín) cái ghế nhựa ra ngoài rồi mang số ghế vừa chiếm đoạt được đến tổ 19, khu phố P B, phường A L để tìm người bán. Tại đây, Bị cáo định bán số ghế trộm cắp được cho ông Trịnh Văn B nhưng ông Bình từ chối không mua nên bị cáo bán cho một người phụ nữ không rõ nhân thân, lai lịch được 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) sau đó dùng hết số tiền trên mua ma túy của Vũ Thị Hà Th sử dụng.
Bà Soa phát hiện tài sản bị mất nên kiểm tra Camera an ninh gắn trong cửa hàng, xác định bị cáo là người đã lấy trộm nên có đơn trình báo đến Cơ quan Công an. Quá trình điều tra, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại bản kết luận định giá tài sản ngày 29/3/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Bình Long kết luận: 09 cái ghế nhựa đã qua sử dụng bị cáo chiếm đoạt trị giá 450.000 đồng (Bốn trăm năm mươi ngàn đồng).
Quá trình điều tra Cơ quan điều tra:
Thu giữ 01 đĩa DVD có đoạn video thời lượng 01 phút 11 giây ghi lại hình ảnh bị trộm cắp tài sản vào ngày 26/3/2019.
Thu giữ và đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bị cáo 01 (một) áo sơ mi nam ngắn tay, sọc carô màu trắng, nâu, xanh da trời, vàng có in chữ “HOLUSTER” phía trong cổ áo; 01 quần đùi màu đen viền đỏ có in chữ “FSO”
Đối với 09 cái ghế nhựa có lưng tựa màu đỏ sau khi trộm cắp được, bị cáo bán cho một người phụ nữ không rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra không thu hồi được.
Quá trình điều tra, bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 675.000 đồng (Sáu trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).
Tại bản cáo trạng số 36/CT – VKS ngày 15/7/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
2
Bị cáo đồng ý với bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long truy tố và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long tại phiên tòa. Bị cáo không tranh luận gì và không nói lời sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Bình Long, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long, Kiểm sát viên, Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa xét xử công khai hôm nay, bị cáo đã hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình đã gây ra. Đó là vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 26/3/2019 tại quán ăn biển hiệu “Bảo Linh” do bà Đinh Thị S làm chủ ở tổ 01, khu phố P N, phường P Đ, thị xã B L. Bị cáo đã lén lút chiếm đoạt 09 cái nhựa có lưng tựa màu đỏ của bà Soa mang đi bán lấy tiền mua ma túy sử dụng. Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của người bị hại tại cơ quan điều tra, với thời gian địa điểm xảy ra vụ án, với biên bản khám nghiệm hiện trường và tang vật thu giữ được, phù hợp với kết luận điều tra, cáo trạng và kết luận của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và năng lực trách nhiệm hình sự, tuy trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt của người bị hại là 450.000 đồng (Bốn trăm năm mươi ngàn đồng) nhưng bị cáo đã có 01 tiền án đó là ngày 10/8/2017, bị Tòa án nhân dân thị xã Bình Long xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 21/2017/HSST chưa được xóa án tích là tình tiết định tội đối với lần phạm tội này. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 là hoàn toàn có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Tại phiên tòa xét xử công khai hôm nay có đầy đủ cơ sở khách quan kết luận bị cáo Nguyễn Văn
3
T phạm tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát: Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173, các điểm b, h, s khoản 1 Điều 51, Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù.
Về tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Hành vi của bị cáo là xem thường pháp luật, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, tội phạm đã hoàn thành. Xét về nhân thân của bị cáo, bị cáo là người nghiện ma túy, đã có 01 tiền án chưa được xóa án tích. Lẽ ra, sau khi bị xét xử và bị xử phạt tù về tội “Trộm cắp tài sản” bị cáo phải lấy đó làm bài học cho mình, cố gắng lao động để nuôi sống bản thân, giúp ích cho gia đình và xã hội. Trái lại do tham lam, tư lợi cá nhân và nhằm để thỏa mãn cơn nghiện của bản thân nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi trộm cắp tài sản bán lấy tiền mua ma túy sử dụng. Do đó, Hội đồng xét xử cần xử phạt nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo nhằm răn đe giáo dục bị cáo và làm gương cho kẻ khác.
Tuy nhiên, hành vi phạm tội của bị cáo phạm tội gây thiệt hại không lớn; Sau khi phạm tội, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục toàn bộ hậu quả cho bị hại số tiền 675.000 đồng (Sáu trăm bảy mươi lăm nghìn đồng); Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi đó là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo. Đối với việc bị cáo có 01 tiền án tại bản án số 21/2017/HSST ngày 10/8/2017 chưa được xóa án tích, tiền án trên là tình tiết định tội đối với bị cáo ở lần phạm tội này nên không xem xét tiền án trên là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
4
Về tang vật của vụ án:
Đối với 01 (một) áo sơ mi nam ngắn tay, sọc carô màu trắng, nâu, xanh da trời, vàng có in chữ “HOLUSTER” phía trong cổ áo; 01 quần đùi màu đen viền đỏ có in chữ “FSO” thu giữ của bị cáo là tư trang của bị cáo. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bị cáo là có căn cứ. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với 09 cái ghế nhựa có lưng tựa màu đỏ sau khi trộm cắp được, bị cáo bán cho một người phụ nữ không rõ nhân thân, lai lịch Cơ quan điều tra không thu hồi được nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với 01 đĩa DVD có đoạn video thời lượng 01 phút 11 giây ghi lại hình ảnh bị cáo trộm cắp tài sản vào ngày 26/3/2019 là chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo cần lưu vào hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục toàn bộ hậu quả cho bị hại số tiền 675.000 đồng (Sáu trăm bảy mươi lăm nghìn đồng), bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
Những vấn đề liên quan:
Đối với việc sau khi trộm cắp được tài sản của bị hại, bị cáo bán cho một người phụ nữ không rõ nhân thân, lai lịch, Cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh làm rõ khi nào làm rõ được sẽ xử lý sau.
Đối với việc sau khi bán tài sản trộm cắp được bị cáo sử dụng tiền mua ma túy của Võ Thị Hà Thanh để sử dụng. Hiện Cơ quan điều tra Công anh thị xã Bình Long đang làm rõ hành vi bán trái phép ma túy của Thanh và sẽ được xử lý bằng vụ án khác.
Về án phí sơ thẩm: Căn cứ điểm a Điều 23 và danh mục án phí lệ phí ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định “Người bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm” “án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng”. Do đó, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về xử lý vật chứng của vụ án, xử lý trách nhiệm dân sự, xử lý án phí là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Từ các lẽ trên
5
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173, các điểm b, h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án.
2/ Xử lý tang vật của vụ án:
Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
Lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD có đoạn video thời lượng 01 phút 11 giây ghi hình ảnh bị cáo trộm cắp tài sản vào ngày 26/3/2019
3/ Xử lý án phí sơ thẩm:
Căn cứ điểm a Điều 23 và danh mục án phí lệ phí ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định. Nôi nhaän:
T.M HOÄI ÑOÀNG XEÙT XÖÛ
- Nhöõng ngöôøi tham gia toá tuïng;
| - TAND tænh Bình Phöôùc; - Sôû tö phaùp tænh bình Phöôùc; - VKSND thò xaõ Bình Long; - Coâng an thò xaõ Bình Long; - THA DS thò xaõ Bình Long; - Phoøng hoà sô nghieäp vuï coâng an tænh Bình Phöôùc; - Löu hồ sơ vụ án. 6 | Thẩm Phán – Chủ Tọa Phiên Tòa Nguyễn Hữu Đức |