vanban.org

Bản án 36/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La Tuyên án 09/05/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Tuyên bố: Bị cáo Phạm Hải D phạm tội Trộm cắp tài sản.

Xử phạt Phạm Hải D 18 ( mƣời tám) tháng cải tạo không giam giữ - Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã Nà Nghịu, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La nhận đƣợc Quyết định thi hành án và bản sao Bản án của Tòa án nhân dân huyện Sông Mã. Miễn khấu trừ thu nhập cho c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Hải Dương trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1- Tuyên bố: Bị cáo Phạm Hải D phạm tội Trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG MÃ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SƠN LA
Bản án số: 36/2019/HSST
Ngày 09 tháng 5 năm 2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Bá Toàn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Quàng Văn Tiện

2. Bà Lƣờng Thị Khuyển

- Thư ký phiên toà:

Bà Hà Thị Điệp - Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên toà:

Ông Sộng Nỏ Ly - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 34/2019/TLST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2019, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 32/2019/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Hải D - Sinh ngày 13 tháng 10 năm 2000; Nơi ĐKHKTT và nơi ở: bản T, xã N, huyện S, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ văn hoá: 11/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng, đoàn: Không; con ông Phạm Văn C và bà Đoàn Thị H; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Ngƣời bị hại: Anh Trần Đức M, trú tại: Tổ dân phố 12, thị trấn S, huyện S, tỉnh Sơn La. Vắng mặt có lý do.

Ngƣời đại diện: Bà Tống Thị T, sinh năm 1961, trú tại: Tổ dân phố 12, thị trấn S, huyện S, tỉnh Sơn La - Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Khoảng 16 giờ ngày 25/01/2019 Phạm Hải D đi xe đạp từ nhà ở bản T, xã N, huyện S đến quán điện tử X-game của anh Trần Văn V tại tổ dân phố 5, thị trấn S. Đến nơi D dựng xe ở ngoài cạnh những chiếc xe mô tô rồi đi vào quán để chơi game nhƣng khi bật máy lên thấy tài khoản hết tiền nên D đi ra ngoài chỗ để xe. Khi đó D nhìn thấy chiếc xe mô tô Exciter mùa trắng - đỏ BKS 26F1-078.56 để bên phải cạnh xe đạp, D lại gần ngồi lên xe thấy xe không khóa cổ nên đã nảy sinh ý định lấy trộm; D đi vào trong quán quan sát thì thấy mọi ngƣời đang mải chơi game, D đi ra đeo khẩu trang, đội mũ vải lƣỡi trai màu đen rồi ngồi lên xe, đẩy xe lùi ra ngoài quốc lộ 4G, sau đó dắt xe theo hƣớng Sông Mã - Sơn La đến quán sửa xe máy của anh Lục Đình T ở tổ dân phố 10, D nói xe bị mất chìa khóa nên muốn thay ổ khóa điện, anh T nhất trí thay ổ khóa; Khi thay ổ khóa xong D điều khiển xe đi về, khi về đến nhà mẹ của D hỏi “xe của ai”, D trả lời “xe mƣợn của bạn”. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày D cầm theo chiếc cờ lê, điều khiển xe đến đầu cầu cứng Sông Mã, dùng chiếc cờ lê tháo biển kiểm soát xe ra nhằm tránh bị phát hiện, sau đó điều khiển xe sang thị trấn Sông Mã, trên đƣờng đi D vứt chiếc cờ lê xuống Sông Mã, còn biển kiểm soát D vứt ở một đống cát trên đƣờng Thanh Niên thuộc tổ dân phố 5, rồi điều khiển xe đi dán lại nilon để thay đổi đặc điểm tại quán của Lâm Văn T ở tổ dân phố 9; Tại đây T và D thống nhất giá dán nilon tất cả là 600.000đ. Đển khoảng 18 giờ ngày 25/01/2019 ngƣời bị hại anh Trần Đức M phát hiện chiếc xe mô tô Exciter màu trắng -đỏ BKS 26F1-078.56 của mình bị mất, M đã đi tìm tại các quán sửa chữa xe máy nhƣng không thấy nên đến Công an huyện Sông Mã để trình báo sự việc. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày Tổ công tác Công an huyện Sông Mã phát hiện có một chiếc xe mô tô Excier máu trắng - đỏ không có biển kiểm soát đang đƣợc Phạm Hải D đem dán nilon tại quán Lâm Văn T; Tổ công tác đã mời D về trụ sở Công an huyện để làm việc, tại đây D đã thừa nhận toàn bộ hành vi lấy trộm xe mô tô nhƣ đã nêu. Tổ công tác đã tiến hành thu giữ của D 01 xe mô tô Exciter màu đỏ-trắng; 01 điện thoại di động Iphone 5s; 01 khẩu trang y tế màu xám-trắng; 01 mũ lƣỡi trai màu lƣỡi trai màu đen. Theo khai nhận của Phạm Hải D cơ quan CSĐT đã tiến hành thu giữ chiếc xe đạp của Phạm Hải D ở quán X-game; 01 ổ khóa điện tại quán sửa xe máy Lục Đình T ở tổ 10; 01 biển kiểm soát số 26F1-078.56.

Tại Biên bản khám nghiệm hiện trƣờng, xác định: Quán game của anh Trần Văn V ở tổ dân phố 5, thị trấn Sông Mã, xây cấp 4 lợp tôn diện tích là 9,90x23m. Tiếp giáp quốc lộ 4G là cửa xếp(04 cánh), cách cửa chính vào trong 3,5m đƣợc lắp nhôm kính( hai cánh cửa ra vào 2,18x1,53m), ở giữa là bê tông là chỗ để xe của khách. Xe mô tô Exciter BKS 26F1-078.56 dựng quay đầu vào trong cách cửa nhôm kính 2,4m, cách tƣờng phía đông 2,9m, cách xe mô tô 0,7m về phía đông là chiếc xe đạp. Bên trong là phòng chơi game.

Ngày 28/01/2019 cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Mã yếu cầu định gía tài sản đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Exciter; màu trắng- đỏ, biển kiểm soát 26F1-078.56.Tại Kết luận giám định số 24/KL ngày 30/01/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Sông Mã, kết luận: “ 01(một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA loại Exciter; màu trắng - đỏ, BKS 26F1-078.56, xe đã qua sử dụng, giá trị: 30.000.000đ (ba mƣơi triệu đồng)”.

Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 34/CT-VKSSM ngày 09 tháng 4 năm 2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã truy tố ra trƣớc Toà án nhân dân huyện Sông Mã để xét xử Phạm Hải D về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS.

Tại phiên toà kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố đề nghị tuyên bố bị cáo phạm tội Trộm cắp tài sản; Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 BLHS xử phạt bị cáo từ 18 - 24 tháng cải tạo không giam giữ; chấp nhận việc thỏa thuận và đã bồi thƣờng của gia đình bị cáo và ngƣời bị hại; buộc bị cáo chịu án phí theo quy định; Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Tại phiên tòa khi đƣợc nói lời sau cùng bị cáo thừa nhận hành vi của mình đã vi phạm pháp luật, việc Tòa án đƣa bị cáo ra xét xử về tội Trộm cắp tài sản là không oan, sai; bị cáo đề nghị Tòa án xem xét cho bị cáo đƣợc hƣởng mức hình phạt cải tạo ngoài xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhân dân huyện Sông Mã nhận định nhƣ sau:

Cơ quan điều tra Công an huyện Sông Mã, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa thẩm phán chủ tọa phiên tòa, thƣ ký phiên tòa, kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thủ tục tố tụng tại phiên tòa theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về các chứng cứ xác định tội danh: Hành vi phạm tội của bị cáo đƣợc chứng minh bằng các căn cứ sau:

- Đơn trình báo của anh Trần Đức M về việc ngày 25/01/2019 tại quán X-game anh bị mất một chiếc xe mô tô biển kiểm soát 26F1 - 078.56.

- Biên bản khám nghiệm hiện trƣờng vụ mất trộm xe mô tô lập vào hồi 09h40 tại Tổ dân phố 5, thị trấn Sông Mã, huyện Sông Mã.

- Lời khai của anh Lục Đình T về việc khoảng 16h30 ngày 26/01/2019 anh có thay ổ khóa điện của chiếc xe mô tô Exciter màu trắng - đỏ.

- Lời khai của anh Lâm Văn T về việc khoảng 19h10 ngày 25/01/2019 anh đƣợc một ngƣời khách mang đến quán anh một chiếc xe Exciter150 màu trắng đỏ, thuê dán tem mới.

- Lời khai nhận tội của bị cáo về thời gian, địa điểm, diễn biến việc thực hiện tội phạm.

Tại phiên toà bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi, bị cáo vẫn giữ nguyên lời khai nhƣ đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án và hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc bị cáo đã thực hiện. Nhƣ vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố bị cáo về tội Trộm cắp tài sản, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS là có căn cứ.

Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do đua đòi, muốn có xe mô tô để làm phƣơng tiện đi lại, ngày 25/01/2019 tại quán X-game của anh Trần Văn V, ở Tổ 5, thị trấn Sông Mã, Phạm Hải D đã có hành vi lén lút chiếm đoạt chiếc xe mô tô Exciter nhãn hiệu YAMAHA biển kiểm soát 26F1-078.56 của anh Trần Đức M, chiếc xe mô tô có giá trị là 30.000.000đ.

Hành vi bị cáo thực hiện đã phạm tội Trộm cắp tài sản - Tội phạm và hình phạt đƣợc quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; sau khi bị phát hiện hành vi đã tích cực tác động đến gia đình bồi thƣờng thiệt hại cho ngƣời bị hại; quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng; ngoài ra tại phiên tòa ngƣời đại diện cho ngƣời bị hại đề nghị hội đồng xem xét đến điều kiện phạm tội của bị cáo, để cho bị cáo đƣợc hƣởng sự khoan hồng của pháp luật, đƣợc tiếp tục học tập và sửa chữa lỗi lầm của bản thân - là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, theo quy định tại điểm b, s, i khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS.

Bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, có ba tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS; có nơi cƣ trú cụ thể, rõ ràng; mặt khác bị cáo có tuổi đời còn trẻ, đang tham gia học tập, do nhất thời đua đòi mới thực hiện tội phạm; để bị cáo đƣợc hƣởng sự khoan hồng của pháp luật chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo cũng đảm bảo đƣợc mục đích giáo dục, răn đe và phòng ngừa; không gây ảnh hƣởng đến việc đấu tranh phòng chống tội phạm; phù hợp với quan điểm của Viện kiểm sát. Về việc khấu trừ thu nhập xét thấy bị cáo đang là học sinh, sống phụ thuộc gia đình, không có nghề nghiệp, thu nhập nên cần miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Cơ quan điều tra đã làm rõ bị cáo sống phụ thuộc gia đình, không có tài sản riêng, vì vậy cần miễn phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về thiệt hại và trách nhiệm bồi thƣờng: Ngày 30/01/2019 gia đình Phạm Hải D đã tự nguyện bồi thƣờng số tiền 9.000.000đ cho ngƣời bị hại Trần Đức M, anh M đã nhận đủ số tiền và không yều cầu gì thêm. Thỏa thuận này là sự tự nguyện của các bên nên cần ghi nhận.

Về vật chứng vụ án: Đối với xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA loại Exciter; màu trắng-đỏ, BKS 26F1-078.56, ngày 07/3/2019 Cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Mã trả lại cho chủ sở hữu là anh Trần Đức Mạnh là đảm bảo theo quy định.

Đối với 01 điện thoại di động Iphone 5s; 01 mũ lƣỡi trai màu đen; 01 xe đạp không rõ chủng loại cần trả lại cho bị cáo; đối với 01 khẩu trang y tế, 01 ổ khóa điện xe mô tô cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với vấn đề khác liên quan đến vụ án: Đối với Lục Đình T là ngƣời đã thay ổ khóa điện xe mô tô và Lâm Văn T ngƣời đang dán nilon cho chiếc xe mô tô Exciter màu trắng - đỏ đều không biết là xe do Phạm Hải D trộm cắp mà có nên cơ quan CSĐT không đặt vấn đề xử lý là có căn cứ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1- Tuyên bố: Bị cáo Phạm Hải D phạm tội Trộm cắp tài sản.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s, i khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 36 BLHS:

Xử phạt Phạm Hải D 18 ( mƣời tám) tháng cải tạo không giam giữ - Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã Nà Nghịu, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La nhận đƣợc Quyết định thi hành án và bản sao Bản án của Tòa án nhân dân huyện Sông Mã.

Miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo.

Giao bị cáo Phạm Hải D cho Uỷ ban nhân dân xã Nà Nghịu, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La giám sát và giáo dục.

2- Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận việc tự thỏa thuận giữa gia đình bị cáo và ngƣời bị hại và đã bồi thƣờng cho ngƣời bị hại số tiền 9.000.000đ ( chín triệu đồng ).

3 - Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 ( một ) một khẩu trang y tế, 01(một) ổ khóa điện xe mô tô.

- Trả lại cho bị cáo: 01 (một ) điện thoại di động Iphone 5; 01 (một ) mũ lƣỡi trai màu đen; 01 (một) xe đạp; ( Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/4/2019 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Mã ).

4- Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; các Điều 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:

Buộc bị cáo chịu 200.000đ ( hai trăm ngàn đồng ) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, ngƣời bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 09/5/2019 ./.

Cỡ chữ