- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn B phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM SÁCH TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2019/HSST Ngày: 31/7/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM SÁCH - TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thu Thúy;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Luận, bà Nguyễn Minh Trang.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hà - Thư ký TAND huyện Nam Sách.
- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương - Kiểm sát viên VKSND huyện Nam Sách.
Ngày 31/7/2019, tại nhà văn hóa khu N, thị trấn S, huyện N, tỉnh Hải Dương Tòa án nhân dân huyện Nam Sách xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 37/2019/HSST ngày 12/7/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2019/QĐXXST-HS ngày 19/7/2019 đối với bị cáo:
Lê Văn B, sinh năm 1988;
Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Thôn Đ, xã B, huyện K, tỉnh Hải Dương;
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh;
Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch:Việt Nam;
Con ông: Lê Văn T và bà Nguyễn Thị B1;
Gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ năm;
Tiền án, tiền sự: Chưa
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/6/2019 đến ngày 08/6/2019 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Kim Chi - Công an tỉnh Hải Dương;
Có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chiều ngày 03/6/2019 Lê Văn B đi đến khu vực P thuộc địa phận xã T, huyện K, tỉnh Hải Dương mua của một người thanh niên (không rõ tên tuổi địa chỉ) 01 gói nilon có kích thước 2,5 x2,5 cm bên trong có chứa ma túy với giá 200.000đồng, sau khi mua được ma túy B cất gói ma túy ở túi quần soóc phía trước bên phải đang mặc, khi về nhà B cởi quần soóc trên ra và treo ở móc quần áo ở trong phòng riêng. Vào khoảng 8 giờ ngày 7/6/2019 khi B đang ở nhà thì có bạn là chị H gọi điện thoại rủ sang khu nhà trọ của chị H ở huyện N chơi, B đồng ý. B mặc chiếc quần soóc có cất giấu gói ma túy và bắt xe ô tô đi về địa bàn huyện N. Đến khoảng 11 giờ 15 phút cùng ngày, khi B xuống xe ô tô đang đứng chờ chị H ra đón thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra Công an huyện Nam Sách kiểm tra phát hiện trong túi quần soóc phía trước bên phải Bình đang mặc có cất giấu 01 gói nilon có kích thước 2,5 x2,5 cm bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng. Lực lượng Cảnh sát điều tra Công an huyện đã tiến hành lập biên bản, quản lý và niêm phong vật chứng. Tại kết luận giám định số 275/KLGĐ(Đ6) ngày 07/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hải Phòng kết luận: Tinh thể gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2584 gam, là loại Methamphetamine.
Về vật chứng: 0,1120gam Methamphetamin hoàn lại sau giám định cùng toàn bộ vỏ bao bì được niêm phong trong bì thư số 275/2019/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng được lưu giữ tại kho vật chứng - Công an huyện Nam Sách chờ xử lý theo quy định.
Tại bản Cáo trạng số 36/CT-VKS-NS ngày 11/7/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương truy tố Lê Văn B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị HĐXX áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS; Tuyên bố: Lê Văn B phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"; Xử phạt: B từ 13 - 15 tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự ; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu cho tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định; Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình, thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng, đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi tố tụng, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra – Công an huyện Nam Sách, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa Bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và tang vật chứng, có đủ cơ sở kết luận: Hồi 11 giờ 15 phút, ngày 7/6/2019, tại đoạn đường Quốc lộ 37, thuộc địa phận thôn M, xã Đ, huyện N, tỉnh Hải Dương, Lê Văn B có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy Methamphetamine có khối lượng 0,2584 gam, mục đích để sử dụng, thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra Công an huyện Nam Sách bắt quả tang.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc cất giấu trái phép chất ma túy Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng là vi phạm pháp luật, nhận thức được tác hại của ma túy đối với sức khỏe con người và xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bố đẻ bị cáo là người có công với cách mạng được tặng thưởng huân chương kháng chiến nên bị cáo được hưởng các tính tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo cần bắt bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 BLHS có quy định về hình phạt bổ sung là phạt tiền, nhưng xét bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên hội đồng xét xử không phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: 0,1120gam Methamphetamine và vỏ bao gói hoàn lại sau giám định là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với người thanh niên bán ma túy cho Bình, không làm rõ được tên tuổi địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.
Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Luật phí và lệ phí, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lê Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lê Văn B 13 (Mười ba) tháng tù, thời gian tính từ ngày tạm giữ 07/6/2019.
2. Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu cho tiêu hủy 0,1120gam gam Methamphetamine và vỏ bao gói hoàn lại sau giám định được niêm phong trong bì thư niêm phong số 275/2019/PC09 của của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Nam Sách và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Sách ngày 26/7/2019)
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 buộc bị cáo Lê Văn Bình phải chịu 200.000đ án phí sơ thẩm hình sự.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Nam Sách; - Cơ quan điều tra - Công an huyện Nam Sách; - VKS tỉnh Hải Dương; - Sở TP tỉnh HD; - Trại tạm giam Kim Chi; - Chi cục THA huyện Nam Sách; - UBND xã B, K; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ; - Lưu trữ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( Đã ký) Đoàn Thị Thu Thúy |