vanban.org

Bản án 36/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau Tuyên án 24/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Phạt bị cáo T 05 (năm) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn T bị xét xử về tội cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật…"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2019/HS-ST
Ngày: 24-10-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Quế

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trương Công Dịnh

2. Ông Lê Bình Triệu

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Bảo Trâm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thới Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Đạt - Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 34/2019/TLST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2019/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:

Trần Văn T, sinh năm 1989; nơi cư trú: Ấp M, xã Tr, huyện Th, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn N và bà Phạm Thị L; có vợ (đã ly hôn), chưa có con; tiền sự: Không; tiền án: Không; nhân thân: Đây là lần đầu tiên bị cáo có hành vi vi phạm pháp luật; bị cáo tại ngoại.

Bị cáo có mặt

- Bị hại: Anh Hà Hữu L1, sinh năm 1976 (đã chết)

- Người đại diện hợp pháp của anh L1: Ông Hà Đại T (cha ruột), sinh năm 1949 và bà Nguyễn Thị H (mẹ ruột. Bà H bỏ địa phương đi nơi khác không rõ địa chỉ mới), sinh năm 1955

Địa chỉ của ông T: Khóm N, phường o, thành phố C, tỉnh Cà Mau

- Người đại diện theo ủy quyền của ông T: Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1960

Địa chỉ: Ấp Ruộng Sạ 2, xã Phong Đông, huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị H (bà ngoại anh L1), sinh năm 1931 và anh Hà Hữu Q (em ruột của anh L1), sinh năm 1979

Cùng địa chỉ: Ấp R, xã Ph, huyện V, tỉnh Kiên Giang

- Người đại diện theo ủy quyền của bà H và anh Q: Ông Nguyễn Văn M

Ông M có đơn xin vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 14/5/2019, Trần Văn T đến dự đám giỗ tại nhà chú ruột là ông Trần Văn Kh (tên gọi khác: Ch), trú tại: Ấp 3, xã Tr, huyện Th, tỉnh Cà Mau. Gia đình ông Kh có tổ chức tiệc nhậu gồm có ông Kh, T và một số người khác là anh em, họ hàng. Đến khoảng 12h cùng ngày, thì có anh Hà Hữu L1, trú tại: Ấp R, xã Ph, huyện V, tỉnh Kiên Giang, đi bộ ngang qua thấy nhà ông Kh có tiệc nhậu nên vào nhà xin nhậu cùng. Do anh L1 là người lạ mặt, không được mời dự đám và có biểu hiện say xỉn nên ông Kh không mời vào nhưng anh L1 vẫn ngồi vào tiệc nhậu và xin rượu uống. Thấy vậy, ông Trần Văn Th mới đưa cho anh L1 một ly rượu, anh L1 uống xong thì xin uống tiếp nhưng không ai cho. Anh L1 chửi thề nhưng không rõ chửi ai, lúc này T đứng dậy đi đến chỗ anh L1 ngồi, T dùng hai tay ôm đỡ anh L1 đứng dậy, đuổi anh L1 đi khỏi tiệc nhậu, anh L1 không chịu đi và chửi T. T nói lại với anh L1 “ông mà chửi nữa là tôi đánh ông đó”. Nhưng anh L1 vẫn chửi, nên T dùng tay phải đánh trúng vào mặt anh L1 một cái làm anh L1 ngã ngửa về sau, đập đầu xuống nền gạch. Anh L1 bị thương tích ở vùng miệng và nằm im tại chỗ. Anh Kh gọi điện thoại trình báo chính quyền và công an địa phương đến giải quyết, nhưng không nói rõ việc T đánh anh L1, vì nghĩ rằng chỉ làm anh L1 bị xây xát nhẹ ở vùng miệng, trình bày do anh L1 bị vấp té và say xỉn nên nằm ngủ. Khi anh Phạm Văn L2, Huỳnh Hoài Th, Phạm Quốc Kh là Công an viên đến, anh L2 có gọi anh L1 và hỏi thì được biết anh L1 ở huyện V, tỉnh Kiên Giang (nhưng không nói rõ địa chỉ), có lập biên bản sự việc. Anh L1 nhờ chở về nhà, nên anh Kh cùng anh Th điều khiển xe mô tô chở anh L1 về, trên đường đi anh L1 có chỉ đường cho anh Kh, đến chợ Đập Đá, thuộc xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang, thì anh Kh cho xe rẽ vào lộ bê tông Kinh 11, thuộc ấp R, xã V, được một đoạn thì anh L1 nói tới nhà bà con rồi, nên anh Kh và anh Th để anh L1 xuống xe. Cả hai quay về đến 18h cùng ngày, anh L1 tử vong. Vụ việc được cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Vĩnh Thuận tiếp nhận, sau đó chuyển cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thới Bình giải quyết theo thẩm quyền.

Tại Bản Kết luận giám định pháp y tử thi số 335/KL-KTHS ngày 16/05/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang kết luận tử thi anh Hà Hữu L1. Các kết quả chính: Bầm tụ máu và phù nề vùng thái dương chẩm trái. Tụ máu dưới da vùng thái dương chẩm trái. Tụ máu cơ thái dương bên trái. Tụ máu ngoài màng cứng vùng thái dương chẩm trái. Tụ máu dưới màng cứng và dưới màng nhện bán cầu đại não phải. Nguyên nhân tử vong: Chấn thương sọ não. Cơ chế hình thành vết thương: Vết thương bầm tụ máu và phù nề vùng thái dương chẩm trái kích thước 4cm x 2cm dẫn đến tử vong có đặc điểm phù hợp với đặc điểm của vết thương do vật tầy diện rộng gây nên.

- Tại Cáo trạng số 37/CT-VKS ngày 11 tháng 9 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình đã truy tố Trần Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 4 Điều 134 của Bộ luật hình sự .

Tại phiên toà hôm nay:

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên toà:

+ Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Đề nghị áp dụng điểm a khoản 4 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật hình sự, phạt bị cáo từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù.

+ Về xử lý vật chứng, đề nghị áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy tất cả các vật chứng.

- Lời nói sau cùng của bị cáo: Thừa nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội là phù hợp với kết luận giám định, sơ đồ hiện trường, lời khai của người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua đó, có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 14/5/2019, tại nhà ông Trần Văn Kh thuộc ấp 3, xã Tr, huyện Th, tỉnh Cà Mau, tổ chức đám giỗ và tiệc nhậu, trong đó có cháu ruột ông Kh là Trần Văn T tham dự. Trong lúc mọi người đang nhậu, thì có Hà Hữu L1 là người không quen biết, không được mời dự đám giỗ. L1 có biểu hiện say xỉn đi ngang qua, tự ghé vào nhà ông Kh và xin rượu uống. Ông Th (là người đang ngồi nhậu) có đưa cho L1 01 ly rượu. L1 uống xong lại xin uống nữa, nhưng mọi người không cho. Thấy vậy, T đến chỗ L1 ngồi, rồi dùng tay trái kéo L1 đứng dậy và kêu L1 đi ra khỏi nhà ông Kh. L1 không chịu đi mà còn chửi T, nên T mới dùng tay phải đánh trúng vào vùng mặt L1 01 cái làm L1 ngã ngửa về phía sau, đầu đập xuống nền gạch. Đến 18 giờ cùng ngày, L1 tử vong. Kết quả giám định, xác định nguyên nhân L1 chết là do chấn thương sọ não. Việc L1 chết là ngoài ý muốn của T.

Với hành vi và hậu quả nói trên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 4 Điều 134 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Hành vi của bị cáo thuộc trường hợp tội phạm rất nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm về sức khỏe người khác làm chết người, gây mất mát cho gia đình bị hại, tác động xấu đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn huyện Thới Bình. Giữa bị cáo và bị hại không có quen biết, không có mâu thuẫn từ trước, nhưng vì thái độ không đúng mực của bị hại và không kiềm chế được bản thân, bị cáo cố ý gây thương tích và làm cho bị hại chết. Để đấu tranh phòng ngừa vi phạm và tội phạm, thì việc xử lý nghiêm khắc đối với bị cáo là cần thiết.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có cân nhắc đến các tình tiết giảm nhẹ sau đây cho bị cáo: Đã bồi thường toàn bộ thiệt hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; chưa có tiền án, tiền sự; có ông chú ruột (tên Trần Văn S) là Liệt sĩ; bị hại cũng có phần lỗi; người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo, xét đề nghị về mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình tại phiên tòa là có cơ sở. Hội đồng xét xử cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để có thời gian cải tạo thành người tốt. Tuy nhiên, do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, căn cứ Điều 54 của Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bà ngoại của bị hại là bà Trần Thị H và em ruột của bị hại là anh Hà Hữu Q đã trực tiếp lo chi phí mai táng cho anh L1 và đã nhận đủ số tiền 120 triệu đồng do phía bị cáo bồi thường. Bà H, anh Q và người đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu gì khác, nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Một tấm thảm vải màu xanh là của gia đình ông Trần Văn Kh, ông Kh không có yêu cầu được nhận lại tài sản này (bút lục số 185). Các vật chứng còn lại là của bị hại, gồm: Một nón kết màu xám, có dòng chữ DIESEL FASHION, đã qua sử dụng; một đôi dép nhựa màu đen, trên dép có chữ ASIA SPORT, đã qua sử dụng; một ly nhựa màu xanh, dưới đáy ly có chữ: MADE IN VIETNAM, đã qua sử dụng; một gói thuốc lá hiệu HERO, bên trong còn 11 điếu thuốc lá; một hột quẹt lửa màu trắng, có in chữ Iphone 6S, đã qua sử dụng; một hộp bắp rang, có chữ ĐORAEMON; một ly thủy tinh, ly trong suốt, đã qua sử dụng; một bọc nilong đựng trái cây, tình trạng đã bị hôi không còn sử dụng được; một áo sơ mi dài tay, đã qua sử dụng; một quần kaki đen, đã qua sử dụng. Tất cả các vật chứng này đều không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy.

Do bị kết án nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa: Bị cáo có mặt nên thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày tuyên án; người đại diện hợp pháp của bị hại và của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nên thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 4 Điều 134; Điều 47; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban tH vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Về trách nhiệm hình sự:

- Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Phạt bị cáo T 05 (năm) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

2. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: Một tấm thảm vải màu xanh, có kích thước 0,48m x 0,70m, độ dày 0,5cm, mặt sau màu bạc, đã qua sử dụng; một nón kết màu xám, có dòng chữ DIESEL FASHION, đã qua sử dụng; một đôi dép nhựa màu đen, trên dép có chữ ASIA SPORT, đã qua sử dụng; một ly nhựa màu xanh, dưới đáy ly có chữ: MADE IN VIETNAM, đã qua sử dụng; một gói thuốc lá hiệu HERO, bên trong còn 11 điếu thuốc lá; một hột quẹt lửa màu trắng, có in chữ Iphone 6S, đã qua sử dụng; một hộp bắp rang, có chữ ĐORAEMON; một ly thủy tinh, ly trong suốt, đã qua sử dụng; một bọc nilong đựng trái cây, tình trạng đã bị hôi không còn sử dụng được; một áo sơ mi dài tay màu nâu nhạt, đã qua sử dụng; một quần kaki đen, đã qua sử dụng.

Các vật chứng nói trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình quản lý (Biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/9/2019)

3. Về nghĩa vụ chịu án phí, quyền kháng cáo:

Bị cáo T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại và của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ