- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "- Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị L, sinh năm 1993, Đăng ký hộ khẩu và nơi cư trú: Bản P, xã K, huyện N, tỉnh N. - Bị đơn: Anh Nguyễn Quốc A, sinh nă…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Đỗ Thị L;
- Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2019/HNGĐ-ST Ngày 15 tháng 10 năm 2019 V/v: Tranh chấp về ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn N Long
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị An
2. Bà Đỗ Thị Hằng Huệ
Thư ký phiên tòa: Bà Phan L Hương
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Thu Hằng – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận B, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 343/2019/TLST – HN&GĐ ngày 26 tháng 6 năm 2019 về việc: “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 262/2019/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 9 năm 2019; Quyết định hoãn phiên tòa số: 123/2019/QĐST-HPT ngày 30 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị L, sinh năm 1993, Đăng ký hộ khẩu và nơi cư trú: Bản P, xã K, huyện N, tỉnh N.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Quốc A, sinh năm 1992; Đăng ký hộ khẩu và nơi cư trú: Số 12 N, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.
(Chị L có mặt, anh Quốc A vắng mặt lần thứ hai liên tiếp tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các tài liệu chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Đỗ Thị L trình bày như sau:
Chị L và anh Quốc A có tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào ngày 29 tháng 4 năm 2016 tại UBND phường T, quận B, thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống tại số 12 N, phường T. Trong quá trình chung sống, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 12 năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, sống không hợp nhau, không hạnh phúc. Khi mâu thuẫn xảy ra gia đình hai bên có biết và hòa giải nhưng không có kết quả. Nay chị L xác định không còn tình cảm với anh Quốc A, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Quốc A.
- Về con chung: Vợ chồng có một con chung là cháu Nguyễn Bảo N, sinh ngày 27 tháng 6 năm 2016. Khi ly hôn chị L hiện nay không có công việc ổn định nên có nguyện vọng để anh Quốc A nuôi cháu N và chị thực hiện đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung là 1.000.000 đồng/tháng.
- Về tài sản chung và nhà ở: Chị L xác nhận tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Sau khi ly hôn hai bên tự lo về nhà ở.
- Về khoản nợ: Chị L xác nhận không vay nợ nhau, không vay nợ ai và không cho ai vay nợ.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn là anh Nguyễn Quốc A nhưng anh Quốc A vắng mặt tại các buổi hòa giải nên Tòa án không tiến hành hòa giải cho các đương sự được.
Tại phiên tòa hôm nay bị đơn vắng mặt lần thứ hai liên tiếp không có lý do, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo luật định.
* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm như sau:
+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định Điều 48; Điều 198; khoản 2, 3 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
+ Thẩm quyền thụ lý và giải quyết vụ án, quan hệ pháp luật và tư cách tố tụng của người tham gia tố tụng Điều 28, 39, 40 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
+ Chuyển thông báo thụ lý vụ án, các quyết định đến Viện kiểm sát và các tống đạt cho đương sự theo đúng quy định từ Điều 170 đến Điều 175; Điều 191; Điều 195; Điều 196; Điều 199 và khoản 2 Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
+ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, thời gian chuẩn bị xét xử đã được Thẩm phán thực hiện theo đúng quy định tại Điều 220; điểm a khoản 1, khoản 4 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
+ Hội đồng xét xử chấp hành đúng theo các nguyên tắc cơ bản về xét xử và thành phần Hội đồng xét xử đúng theo quy định tại Điều 63; điểm b khoản 2 Điều 227 và chương II Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
+ Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 51; Điều 237 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
+ Đối với đương sự: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay đương sự đã được thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 2 Điều 4; khoản 1 Điều 28; Điều 58; 63; 70 và Điều 267 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 39 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn; về con chung căn cứ vào khả năng, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng, đảm bảo quyền lợi của đương sự cũng như quyền lợi của con chung thì giao con chung cho anh Quốc A trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, chị L đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung là 1.000.000 đồng/tháng là phù hợp với quy định pháp luật. Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội để tuyên nguyên đơn chịu án phí sơ thẩm.
Về tài sản chung: Không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn, tuy nhiên bị đơn vắng mặt không lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải được cho đương sự, vì vậy Tòa án áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn. Tòa án tiến hành thụ lý giải quyết vụ án đúng theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung: Xét quan hệ hôn nhân giữa chị Đỗ Thị L và anh Nguyễn Quốc A là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 12 năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, sống không hợp nhau, không hạnh phúc. Khi mâu thuẫn xảy ra gia đình hai bên có biết và hòa giải nhưng không có kết quả và hiện anh chị đã sông sly thân với nhau. Nay chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn, khả năng đoàn tụ là không có, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Quốc A.
[3] Tòa án đã tiến hành xác minh mâu thuẫn tại địa phương nơi vợ chồng chung sống. Bà Bùi Thị T – Tổ trưởng tổ dân phố số 4 phường phường T, quận B, thành phố Hà Nội cho biết: Chị Đỗ Thị L và anh Nguyễn Quốc A đăng ký kết hôn vào ngày 29 tháng 4 năm 2016 tại UBND phường T, quận B, thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống tại số 12 N, phường T. Trong quá trình vợ chồng chung sống, tổ dân phố thấy có phát sinh nhiều mâu thuẫn. Hiện nay chỉ còn anh Quốc A sinh sống tại số 12 N, phường T, chị L đã chuyển về nhà mẹ đẻ sinh sống. Đề nghị Tòa án giải quyết tranh chấp ly hôn của anh chị theo quy định của pháp luật. Về con chung: Vợ chồng có một con chung là cháu Nguyễn Bảo N, sinh ngày 27 tháng 6 năm 2016. Hiện cháu N đang ở với bố tại số 12 N, phường T. Về tài sản chung và nhà ở: Tổ dân phố không nắm rõ về vấn đề tài sản chung và nhà ở của hai anh chị. Về khoản nợ: Tổ dân phố không nắm rõ vấn đề vay nợ của hai anh chị.
[4] Tòa án cũng tiến hành ghi ý kiến gia đình của bà Đinh Thị Hệ, sinh năm 1973; địa chỉ: Bản P, xã K, huyện N, tỉnh N là mẹ đẻ của chị Đỗ Thị L - nguyên đơn trong vụ án xin ly hôn với anh Nguyễn Quốc A. Qua trao đổi bà H cho biết: Cháu Đỗ Thị L và cháu Nguyễn Quốc A có tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 29 tháng 4 năm 2016 tại UBND phường T, quận B, thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống tại số 12 N, phường T. Trong quá trình chung sống, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 11 năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do cháu Quốc A không quan tâm đến gia đình, không lo kinh tế gia đình. Khi mâu thuẫn xảy ra gia đình tôi có khuyên giải nhưng hai cháu không muốn chung sống với nhau, cháu L đã bỏ về ở với tôi từ tháng 11 năm 2017 đến nay. Nay hai cháu không còn tình cảm với nhau, sống không hạnh phúc đề nghị Tòa án giải quyết cho hai cháu được ly hôn. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Bảo N, sinh ngày 27 tháng 6 năm 2016. Khi ly hôn tôi để hai cháu tự quyết định việc nuôi con. Về tài sản chung và nhà ở: Quan điểm của gia đình để hai cháu tự quyết định. Về khoản nợ: Gia đình chúng tôi xác nhận không vay nợ hai cháu và hai cháu cũng không vay nợ gì gia đình chúng tôi.
[5] Hội đồng xét xử xét thấy về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh Quốc A kết hôn trên cơ sở tự nguyện, trong quá trình chung sống xảy ra nhiều mâu thuẫn, hai bên gia đình đã hòa giải nhưng không có kết quả. Tòa án cũng đã nhiều lần tiến hành hòa giải để vợ chồng đoàn tụ tuy nhiên không có kết quả vì anh Quốc A vắng mặt. Anh chị cũng đã sống ly thân từ tháng 11 năm 2017 thể hiện tình cảm vợ chồng không còn, khả năng đoàn tụ là không có, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ vào Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xử cho chị L được ly hôn anh Quốc A là phù hợp với quy định của pháp luật.
[6] Về con chung: Do hiện nay cháu Nguyễn Bảo N còn nhỏ nên ở Hà Nội sẽ tiện cho việc chăm sóc cháu được tốt hơn, chị L hiện đang không có việc làm ổn định nên điều kiện để nuôi dưỡng, chăm sóc cháu N không đảm bảo. Vì vậy để anh Quốc A trực tiếp nuôi cháu N là phù hợp với thực tế, phù hợp với quy định của pháp luật. Chị L tự nguyện đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung là 1.000.000 đồng/tháng.
[7] Về tài sản chung: Chị L xác nhận vợ chồng tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét;
Về khoản nợ chung: Chị L xác nhận vợ chồng không vay nợ nhau. Vợ chồng không vay nợ ai và không cho ai vay nợ.
[8] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[9] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm;
[10] Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Từ các căn cứ và nhận định của Hội đồng xét xử;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ các Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điều 39: Điều 70; Khoản 4 Điều 147; các Điều 203; 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ vào Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Căn cứ Điều 27, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Xử:
1. Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Đỗ Thị L;
Chị Đỗ Thị L được ly hôn với anh Nguyễn Quốc A.
2. Về con chung: Giao cho anh Quốc A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Nguyễn Bảo N, sinh ngày 27 tháng 6 năm 2016; chị L thực hiện nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng)/tháng kể từ tháng 10 năm 2019 đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác của pháp luật. Chị Đỗ Thị L có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung và nhà ở: Chị L xác nhận tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; Sau khi ly hôn chị tự lo về nhà ở.
Về vay nợ chung: Chị L xác nhận hai bên không vay nợ nhau, không vay nợ ai và không cho ai vay nợ.
4. Về án phí: Chị Đỗ Thị L phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí sơ thẩm được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu số 5595 ngày 26 tháng 6 năm 2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận B, thành phố Hà Nội.
Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày 15 tháng 10 năm 2019. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân phường nơi bị đơn cư trú.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội; - Viện kiểm sát nhân dân quận B; - Chi Cục THA dân sự quận B; - UBND phường T, quận B, thành phố Hà Nội; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn N Long |