- Tranh chấp gì? án dân sự — "Công ty Thái lan"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần Thái L.
- Căn cứ chính? Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HIỆP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 36/2019/DS - ST Ngày: 09-9-2019 V/v “Tranh chấp hợp đồng mua bán”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HIỆP, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Danh Vũ
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đinh Khắc Việt
2. Ông Nguyễn Ngọc Chúc
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Cẩm Ni, thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang. Không tham gia phiên Tòa.
Trong ngày 09 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 147/2019/TLST- DS ngày 02 tháng 7 năm 2019 về việc “ Tranh chấp hợp đồng mua bán” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2019/QĐXX-DS ngày 05 tháng 8 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 29/2019 ngày 20 tháng 8 năm 2019 giữa các đương sự:
1/. Nguyªn ®¬n: Công ty Cổ phần sơn Thái L.
Đại diện theo pháp luật: Ông Trần Cao C, chức vụ: Giám đốc
Địa chỉ trụ sở chính: Số 5, Ngách 73, Ngõ 1194, đường L, phường L, Quận Đống Đ, thành phố N.
Địa chỉ giao dịch: Số 576, 678 Cộng H, phường 13, Quận B, Thành phố H.
Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng bà Huỳnh Thị Bích H, sinh năm: 1983, chức vụ: Quản lý Showrom, huyện H. (Có mặt)
Địa chỉ: số 209/4 Nguyễn Bỉnh K, khu phố Đông H, phường Vĩnh T, thành phố G, tỉnh Kiên Giang.
2/. BÞ ®¬n: Ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm: 1975 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Khu phố Đông A, thị trấn Tân H, huyện Tân H, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 18/5/2019 và các lời khai có trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Bích H trình bày:
Nguyên trước đây vào ngày 11/3/2019 ông Nguyễn Ngọc T có đến Công ty cổ phần Thái L Showrom huyện Tân H ký hợp đồng mua nước sơn theo hợp đồng số:40/2019/HĐMB-CNMN và biên bản hợp tác ngày 24/02/2019. Ông T mua nước sơn của Công ty lần đầu số tiền là 19.086.000đ ông T thanh toán được số tiền 15.000.000đ và còn nợ lại 4.086.000đ, ông T cam kết giao nước sơn tiếp rồi ông sẽ thanh toán số tiền còn lại. Đến ngày 20/3/2019 chị Huỳnh Thị Bích H giao nước sơn lần hai cho ông T tại công trình đang thi công ở nhà ông Phạm Thanh P số 841, Nguyễn Trung T, khu phố 5, phường An B, Tp. Rạch G, tỉnh Kiên Giang với tổng số tiền là 31.950.000đ. Tổng cộng ông T nợ lại Công ty cổ phần Thái L Paint Showrom huyện H số tiền là 36.036.000đ. Ông T cam kết đến chiều cùng ngày sẽ đến Showrom huyện H trả số tiền trên. Nhưng đến hẹn ông T không chịu thanh toán Quản lý Showrom bà Huỳnh Thị Bích H có đến nhà ông T để làm việc nhiều lần nhưng ông T chỉ hẹn mà không chịu Thanh toán. Đến ngày 26/4/2019 bà H và ông Châu T Lập là trưởng khu phố Đông A có đến làm việc với ông T, ông T thừa nhận còn nợ Công ty số tiền trên do hoàn cảnh gia đình khó khăn ông T xin trả dần cho đến khi hết nợ. Nhưng từ đó đến nay ông T không trả cố tình tránh né gây khó khăn cho Công ty.
Tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Bích H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Ngọc T trả cho Công ty số tiền là 36.036.000đ (Ba mươi sáu triệu không trăm ba mươi sáu nghìn đồng) yêu cầu trả một lần và không yêu cầu tính lãi. Đại diện theo ủy quyền chỉ yêu cầu một mình ông T trả số tiền trên ngoài ra không yêu cầu ai khác.
Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt, niêm yết hợp lệ giấy triệu tập cho ông Nguyễn Ngọc T tham gia phiên họp kiểm tra việc, giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và triệu tập tham gia phiên tòa, nhưng ông T không có mặt và không có lời trình bày.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Công ty Cổ phần Thái L yêu ông Nguyễn Ngọc T trả số tiền 36.036.000đ (Ba mươi sáu triệu không trăm ba mươi sáu nghìn đồng) yêu cầu trả một lần và không yêu cầu tính lãi. Đây là quan hệ tranh chấp hợp đồng mua bán theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền: Công ty Cổ phần Thái L khởi kiện ông Nguyễn Ngọc T, ông T có nơi cư trú tại: Khu phố Đông A, thị trấn Tân H, huyện H, tỉnh Kiên Giang, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang. Theo quy định tại khoản 1 Điều 35 điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ông Nguyễn Ngọc T đã được Tòa án niêm yết thủ tục tố tụng và triệu tập hợp lệ lần hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn Ngọc T.
Về nội dụng: Xét về nội dung và hình thức hợp đồng mua bán giữa Công ty Cổ phần Thái L và ông Nguyễn Ngọc T được xác lập trên cở sở tự nguyện, các bên đương sự đều có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, hợp đồng được lập thành văn bản có chữ ký, xác nhận của các bên, không bị lừa dối, hay cưỡng ép, không trái đạo đức xã hội nên giao dịch dân sự trên là phù hợp với quy định pháp luật.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần Thái L yêu ông Nguyễn Ngọc T trả số tiền 36.036.000đ (Ba mươi sáu triệu không trăm ba mươi sáu nghìn đồng). Quá trình giải quyết vụ án đại diện theo ủy quyền của Công ty bà Huỳnh Thị Bích H cung cấp cho Tòa án phiếu xuất kho ngày 20/3/2019 và hợp đồng mua bán giữa Công ty và ông Nguyễn Ngọc T ký kết theo hợp đồng số: 40/2019/HĐMB-CNMN và biên bản hợp tác ngày 24/02/2019 thì ông T có mua nước sơn của Công ty để phục vụ cho công trình xây nhà ở cho ông Phạm Thanh P ở căn nhà số 841, Nguyễn Trung T, khu phố 5, phường An B , Tp. Rạch G, tỉnh Kiên Giang. Trong quá trình xây dựng công trình phía Công ty đã cung cấp cho ông T nước sơn đầy đủ theo hợp đồng quy định. Tính đến ngày 20/3/2019 thì ông T lấy nước sơn của Công ty tổng số tiền là 51.036.000đ. Ngày 20/3/2019 ông Phạm Phong P có đơn xác nhận ông đã thanh toán đầy đủ số tiền mua các sản phẩm sơn của Công ty cổ phần Thái L là 51.036.000đ theo phương thức thanh toán tiền mặt cho ông Nguyễn Ngọc T là thợ ký hợp đồng mua bán với Công ty cổ phần Thái L huyện Tân H. Nhưng ông T chỉ thanh toán cho Công ty số tiền là 15.000.000đ và chiếm dụng số tiền còn lại là 36.036.000đ (Ba mươi sáu triệu không trăm ba mươi sáu nghìn đồng). Đến ngày 26/4/2019 bà H và ông Châu Thành L là trưởng khu phố Đông A có đến làm việc với ông T, ông T thừa nhận còn nợ Công ty số tiền 36.036.000đ do hoàn cảnh gia đình khó khăn ông T xin trả dần cho Công ty trước 15.000.000đ nhưng từ đó đến nay ông T vẫn không thanh toán. Đại diện của Công ty có đến nhắc nhở và làm việc với ông T rất nhiều lần nhưng ông T cố tình trì hoãn gây khó khăn cho Công ty. Việc ông T không trả tiền cho Công ty là vi phạm nghĩa vụ trả tiền được quy định tại Điều 440 Bộ luật dân sự 2015. Tại phiên Tòa đại diện theo ủy quyền của Công ty yêu cầu ông Nguyễn Ngọc T trả số tiền là 36.036.000đ (Ba mươi sáu triệu không trăm ba mươi sáu nghìn đồng) yêu cầu trả một lần và không yêu cầu tính lãi là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với bị đơn ông Nguyễn Ngọc T sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành niêm yết thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, Thông báo phiên họp việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông T không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không có văn bản trả lời cho Tòa án, không đưa ra chứng cứ và cũng không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan và không có ý kiến trình bày. Nên căn cứ theo khoản 2, khoản 4, Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành giải quyết vụ án theo chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Từ những cơ sở trên xét thấy, yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần Thái L yêu ông Nguyễn Ngọc T trả số tiền 36.036.000đ (Ba mươi sáu triệu không trăm ba mươi sáu nghìn đồng) là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường Vụ Quốc Hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Giá trị tài sản tranh chấp là: 36.036.000đ (Ba mươi sáu triệu không trăm ba mươi sáu nghìn đồng).
Án phí tính như sau: 36.036.000đ (Ba mươi sáu triệu không trăm ba mươi sáu nghìn đồng) x 5% = 1.801.800đ (Một triệu tám trăm lẻ một nghìn tám trăm đồng).
- Yêu cầu của Công ty Cổ phần Thái L được chấp nhận nên Công ty không phải chịu tiền án phí. Trả lại cho Công ty Cổ phần Thái L số tiền tạm ứng án phí 900.000đ (Chín trăm nghìn đồng) đã nộp theo lai thu số 0003436 ngày 27/6/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân H, tỉnh Kiên Giang.
- Buộc ông Nguyễn Ngọc T phải nộp 1.801.800đ (một triệu tám trăm lẻ một nghìn tám trăm đồng).
[8 Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, ,khoản 2, 4 Điều 91, Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227;khoản 2 Điều 244 và khoản 1 Điều 273; Điều 278 và khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ vào Điều 430, Điều 440 Bộ luật dân sự 2015.
Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần Thái L.
2. Buộc ông Nguyễn Ngọc T trả cho Công ty Cổ phần Thái L số tiền 36.036.000đ (Ba mươi sáu triệu không trăm ba mươi sáu nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
3. Về Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:
- Yêu cầu của Công ty Cổ phần Thái L được chấp nhận nên Công ty không phải chịu tiền án phí. Trả lại cho Công ty Cổ phần Thái L số tiền tạm ứng án phí 900.000đ (Chín trăm nghìn đồng) đã nộp theo lai thu số 0003436 ngày 27/6/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân H, tỉnh Kiên Giang.
- Buộc ông Nguyễn Ngọc T phải nộp 1.801.800đ (một triệu tám trăm lẻ một nghìn tám trăm đồng).
Trường hợp bản án quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Quyền kháng cáo: Công ty Cổ phần Thái L có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Nguyễn Ngọc T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Tòa án ND tỉnh Kiên Giang; - VKSND huyện Tân H; - THA dân sự huyện Tân H; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Danh Vũ |