vanban.org

Bản án 36/2018/HSST — Hình sự

TAND TP. Gò Công, tỉnh Tiền Giang Tuyên án 29/08/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Kim B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng vào điểm g khoản 2, 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Kim B 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ là ngày 21/5/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN KIM B - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Kim B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ GÒ CÔNG
TỈNH TIỀN GIANG.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36 /2018/HSST;
Ngày: 29/8/2018.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Công.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Bùi Thu Hảo.

2/ Ông Nguyễn Văn Trương.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Võ Minh Tuấn - Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 8 năm 2018 lúc 09 giờ 00 phút, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 34/HSST ngày 10 tháng 8 năm 2018, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Kim B, sinh năm 1996, tại tỉnh Tiền Giang; nơi cư trú và chỗ ở: Số 68 NH, khu phố B, phường M, thị xã GC, tỉnh Tiền Giang; giấy CMND: 312294743; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; con của ông Nguyễn Kim Ph và bà Nguyễn Thị Kim L; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: 01 lần, cụ thể:

Ngày 21/3/2016, vi phạm “Tàng trữ trái phép chất ma túy” bị Công an huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương bắt tạm giữ. Ngày 19/4/2016, Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương ra Quyết định số 08/QĐ-TA áp dụng biên pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Kim B, thời hạn 18 tháng kể từ ngày 24/3/2016 tại Trung tâm Giáo dục lao động – Tạo việc làm tỉnh Bình Dương, địa chỉ: ấp GB, xã TL, huyện PG, tỉnh Bình Dương. Ngày 25/8/2017, Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương ra Quyết định số 433/2017/QĐ-TA miễn chấp hành phần thời gian áp dụng biện pháp xử lý hành chính còn lại; ngày tạm giữ: 21/5/2018; ngày tạm giam: 24/5/2018; bị cáo Nguyễn Kim B có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Nguyễn Kim Ph, sinh năm 1958;

Cư trú: Số 68 NH, khu phố B, phường M, thị xã GC, tỉnh Tiền Giang (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bản cáo trạng số 37/CT-VKSTXGC ngày 10 tháng 8 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Nguyễn Kim B về tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy ”, theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 09 giờ ngày 20/5/2018, Nguyễn Kim B, sinh năm 1996, ngụ số 68 NH, khu phố B, Phường M, thị xã GC, tỉnh Tiền Giang đi xe buýt từ bến xe GC đến Quận S, thành phố Hồ Chí Minh gặp một người phụ nữ tên L (không rõ tên và địa chỉ cụ thể) mua 2.000.000 đồng ma túy tổng hợp. Sau đó, Nguyễn Kim B đi xe buýt về nhà đem ma túy cất giấu trong khe quạt của máy lạnh trong phòng ngủ. Đến khoảng 09 giờ 10 phút, ngày 21/5/2018, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy - Công an thị xã Gò Công phối hợp với Công an Phường 1, thị xã Gò Công kiểm tra nhà số 68 NH, khu phố B, Phường M, thị xã G thì bắt quả tang Nguyễn Kim B có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Tang vật thu giữ: 01 bịch nylon được hàn kín bên trong chứa chất tinh thể rắn màu trắng (Nguyễn Kim B khai là ma túy tổng hợp) đã được niêm phong có chữ ký xác nhận của Nguyễn Kim B (người bị bắt) và bà Dương Thị L (người chứng kiến); 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy tổng hợp; 01 điện thoại di động NOKIA105 màu trắng, đã qua sử dụng còn SIM trong máy, chưa kiểm tra bên trong; 01 miếng khăn giấy màu trắng.

Theo Kết luận giám định số 89/KLGĐ-PC54 ngày 23/5/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Tiền Giang:

Mẫu tinh thể màu trắng trong 01 (một) gói nylon màu trắng được dán kín, để trong một bì thư được niêm phong có các chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Kim B và Dương Thị L; gửi giám định là ma túy, có khối lượng 16,7691 gam loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra, Nguyễn Kim B đã thừa nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với mục đích sử dụng. Nguyễn Kim B khai nhận đã sử dụng trái phép chất ma tuý từ năm 2015. Nguyễn Kim B nhiều lần đi thành phố Hồ Chí Minh để mua ma túy, mỗi lần mua từ 500.000 đến 1.000.000 đồng ma túy. Sau khi cai nghiện về Nguyễn Kim B mua ma túy của một phụ nữ không rõ họ tên khoảng 40 tuổi, địa chỉ cư trú tại Quận S, thành phố Hồ Chí Minh.

Đối với ông Nguyễn Kim Ph, sinh năm 1960, ngụ 68 NH, khu phố B, Phường M, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang, là cha ruột của Nguyễn Kim B, không biết Nguyễn Kim B tàng trữ trái phép chất ma túy trong nhà.

* Về vật chứng: Hiện đang tạm giữ: 01 gói niêm phong vụ số: 89 ngày 23/5/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Tiền Giang, người chứng kiến Dương Thị L, giám định viên Nguyễn Thanh Trường; 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy tổng hợp; 01 điện thoại di động NOKIA 105 màu trắng, đã qua sử dụng còn SIM trong máy, chưa kiểm tra bên trong; 01 miếng khăn giấy màu trắng.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung bản cáo trạng số 37 /CT-VKSTXGC ngày 10 tháng 8 năm 2018 truy tố bị cáo Nguyễn Kim B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm g khoản 2, 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Kim B với mức án từ 06 (sáu) đến 07 (bảy) năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và phạt bổ sung từ 5.000.000đ (năm triệu đồng) đến 10.000.000đ (mười triệu đồng), tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Về vật chứng của vụ án đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên, những người tham gia tố tụng không có ý kiến khác về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Bị cáo Nguyễn Kim B nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt tù, bị cáo hứa không tái phạm.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Gò Công, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gò Công, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người có liên quan không có người nào ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Kim B có thừa nhận toàn bộ hành vi của bị cáo theo nội dung của bản cáo trạng nêu là đúng và khai thêm rằng: Mục đích tàng trữ ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 16,7691 gam là để sử dụng cho cá nhân, bị cáo không có mua bán.

Xét thấy, lời nhận tội của bị cáo Nguyễn Kim B có phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng, bản kết luận giám định và biên bản khám nghiệm hiện trường.

Do đó, Hội đồng xét xử đã có đầy đủ chứng cứ kết luận hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Kim B đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về tội tàng trữ trái phép chất ma túy như sau:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

……………………

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

……………………

g) Heroin, Cocain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;”.

Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Kim B thấy có gây nguy hại lớn cho xã hội, bởi lẻ bị cáo B cố ý thực hiện hành vi trực tiếp xâm phạm vào lĩnh vực ma túy, đối với hành vi tàng trữ trái pháp chất ma túy bị pháp luật cấm thực hiện.

Đồng thời hành vi ấy còn gây mất trật tự trị an ở địa phương nơi xảy ra tội phạm và làm cho nhân dân rất bất bình.

Về động cơ, mục đích phạm tội, xét thấy do bị cáo Nguyễn Kim B bị nghiện ma túy, mục đích của bị cáo tàng trữ Methamphetamine để sử dụng cho cá nhân và xem thường pháp luật, từ đó bị cáo mới vấn thân vào con đường phạm tội.

Xét về nhân thân, thấy bị cáo Nguyễn Kim B không có tiền án; có 01 lần tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thì xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo B có thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, cho nên Hội đồng xét xử cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Vì thế, cần phải có một hình phạt tù nghiêm khắc tương ứng với hành vi, tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và cách ly bị cáo B ra khỏi xã hội một thời gian, nhằm để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong vụ số: 89 ngày 23/5/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Tiền Giang; người chứng kiến Dương Thị L, giám định viên Nguyễn Thanh Trường; 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy tổng hợp; 01 miếng khăn giấy màu trắng.

Riêng đối với 01 điện thoại di động NOKIA 105 màu trắng, đã qua sử dụng còn SIM trong máy, chưa kiểm tra bên trong là công cụ dùng vào việc phạm tội còn giá trị sử dụng, nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Xét thấy, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, về mức xử phạt, xử lý vật chứng, thấy có phù hợp với phần nhận định đã nêu trên, cho nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Bị cáo Nguyễn Kim B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Kim B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng vào điểm g khoản 2, 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Kim B 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ là ngày 21/5/2018.

Hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Nguyễn Kim B 5.000.000đ (Năm triệu đồng), tịch thu, sung quỹ nhà nước.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong vụ số: 89 ngày 23/5/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Tiền Giang; người chứng kiến Dương Thị L, giám định viên Nguyễn Thanh Trường; 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy tổng hợp; 01 miếng khăn giấy màu trắng.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động NOKIA 105 màu trắng, đã qua sử dụng còn SIM trong máy, chưa kiểm tra bên trong.

(Theo biên bản bàn giao vật chứng, tài sản ngày 27/8/2018 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thị xã Gò Công với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Gò Công; có sự chứng kiến của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gò Công).

Về thời gian thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo B phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Án tuyên kết thúc cùng ngày.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ