vanban.org

Bản án 36/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 02/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn c vào khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ lu t hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng L (T) phạm tội Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng L 07 (bảy) tháng tù. Th i hạn chấp hành hình phạt tù tính t ngày 28/7/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Hoàng L - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Căn c vào khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ lu t hình sự.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH BÌNH
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2018/HS-ST
Ngày 02 - 11 - 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Hồng Biên

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Quốc Trí

Ông Ngô Văn Khon

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Bạch Phiến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Công - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 11 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 34/2018/TLST-HS, ngày 10 tháng 10 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2018/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Hoàng L (T), sinh năm 1989, tại Đồng Tháp.

Nơi cư trú: Ấp TPA, xã TB1, huyện TB, tỉnh ĐT; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn E và bà Trần Thị S; có vợ là Thạch Thị N (đã ly hôn) và 02 con; tiền án: 01 lần bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xử phạt 01 năm tù giam về tội Trộm cắp tài sản tại Bản án số 41/2017/HS-PT ngày 17/02/2017, chấp hành xong ngày 11/3/2018; tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ ngày 28/7/2018; bị bắt, tạm giữ ngày 28/7/2018 (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lê Hồng D là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Đồng Tháp (có mặt).

- Bị hại: Phạm Ngọc L1, sinh năm 1974.

Nơi cư trú: Khóm TĐB, thị trấn TB1, huyện TB, tỉnh ĐT. Ông L1 có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người làm chứng:

1. Lý Văn N1, sinh năm 1976 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Ấp TA, xã TT1, huyện TT, tỉnh AG.

2. Dương Minh H, sinh năm 1982 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Ấp 3, xã TM, huyện TB, tỉnh ĐT.

3. Võ Duy P, sinh năm 1989 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Khóm TĐB, thị trấn TB1, huyện TB, tỉnh ĐT.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 gi 00 phút, ngày 28/7/2018, Nguyễn Hoàng L điều khiển xe mô tô biển số 66B1-167.18 chở T1 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) đi trên Quốc lộ 30 về hướng Thành phố CL để tìm tài sản lấy trộm. Đến khoảng 01 gi 00 phút cùng ngày, Nguyễn Hoàng L chở T1 đến nhà ông Phạm Ngọc L1, sinh năm 1974, thuộc khóm TĐA, thị trấn TB1, huyện TB, tỉnh ĐT thấy nhà đang xây dựng không có cửa. Lúc này, L d ng xe để T1 đột nh p vào lấy trộm tài sản, còn L ngồi trên xe mô tô ở ngoài ch và cảnh giới. Sau khi, T1 vào lấy trộm được tivi nhãn hiệu TOSHIBA, màn hình ph ng, màu đen, loại 49 inch xong, thì L điều khiển xe mô tô biển số 66B1-167.18 đến chở T1 ngồi sau ôm ti vi đi về hướng Thành phố CL tìm nơi tiêu thụ, cả 02 đi đến khu vực ấp BĐ, xã BT, huyện TB thì Công an huyện TB và Công an xã BT tuần tra phát hiện bắt giữ Nguyễn Hoàng L, còn T1 tẩu thoát.

Tại Bản kết lu n định giá tài sản số 37/KL-HĐ, ngày 30/7/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện TB kết lu n: Tivi nhãn hiệu TOSHIBA, màn hình ph ng, màu đen, loại 49 inch, Model: 49L5650VN trị giá 7.000.000 đồng.

Đối với T1 (chưa rõ nhân thân lai lịch), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện TB đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng không thu th p được tài liệu, ch ng c ch ng minh được nhân thân, lai lịch của T1, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện TB s tiếp tục điều tra, xác minh và xử lý sau.

Về v t ch ng thu giữ gồm:

- 01 (một) tivi nhãn hiệu TOSHIBA, màn hình ph ng, màu đen, loại 49 inch, Model: 49L5650VN;

- 01(một) xe mô tô biển số 66B1-167.18, nhãn hiệu AMAHA Sirius, màu đen, số khung 1FC30E 031526, số máy 1FC3031557;

- 01 (một) tấm vải hình chữ nh t có nhiều hoa văn trắng-xanh-xám;

- 01 (một) áo thun ngắn tay, sọc ngang màu xanh – xám, trước ngực áo bên trái có chữ A α F bên trong c áo có chữ Abercrombie α Fitch ;

- 01 (một) quần sọt vải kaki màu xám, trong thắc lưng có chữ DIESEL .

Tất cả tài sản trên đã qua sử dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Phạm Ngọc L1 đã nh n lại tài sản là một ti vi nhãn hiệu TOSHIBA, màn hình ph ng, màu đen, loại 49 inch, Model: 49L5650VN. Ông L1 không yêu cầu về trách nhiệm dân sự.

Đối với 01 bếp gas đôi màu đen nhãn hiệu Sunhouse, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện TB không thu giữ được khi kiểm tra lúc Nguyễn Hoàng L trên đư ng tìm nơi tiêu thụ tài sản nên không có căn c ch ng minh Nguyễn Hoàng L đã thực hiện hành vi trộm cắp bếp gas.

Đối với xe mô AMAHA Sirius, màu đen, số khung 1FC30E 031526, số máy 1FC3031557 mà Nguyễn Hoàng L và T1 dùng làm phương tiện phạm tội là của bà Nguyễn Thị Bích N2, sinh năm 1995, cư trú ấp TC, xã PC, huyện TN, tỉnh ĐT đ ng tên chủ sở hữu bị mất trộm vào ngày 03/4/2018 tại ấp TC, xã PC, huyện TN. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện TB đã bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện TN, tỉnh ĐT để điều tra xử lý theo thẩm quyền.

Bản cáo trạng số: 35/CT-VKSTB ngày 10 tháng 10 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng L về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ lu t hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình giữ nguyên Cáo trạng truy tố, phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng L phạm tội Trộm cắp tài sản ; p dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ lu t hình sự xử phạt bị cáo t 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù giam. Về xử lý v t ch ng và trách nhiệm dân sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên như phần Quyết định của Cáo trạng.

Ngư i bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hoàng L thống nhất với tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nh như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại có đơn xin bãi nại và xin giảm nh hình phạt, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn được cấp s hộ nghèo, bị cáo đã ly hôn và hiện nay đang nuôi 02 con nhỏ để xét xử bị cáo m c án thấp nhất.

Trong phần tranh lu n, bị cáo Nguyễn Hoàng L thống nhất với l i lu n tội của đại diện Viện kiểm sát, l i bào chữa của Ngư i bào chữa và th a nh n toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Bị cáo Nguyễn Hoàng L nói lời sau cùng: Bị cáo đã ăn năn hối cải về hành vi của mình, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nh hình phạt để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, lo cho gia đình, nuôi 02 con nhỏ và trở thành công dân có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nh n định như sau:

Tại phiên tòa, bị cáo khai nh n hành vi của mình như sau: Vào khoảng 01 gi 00 phút ngày 28/7/2018, bị cáo Nguyễn Hoàng L điều khiển xe mô tô chở T1 đến nhà ông Phạm Ngọc L1 thuộc khóm Tân Đông A, thị trấn Thanh Bình, huyện Thanh Bình thấy nhà đang xây dựng không có cửa nên L d ng xe để T1 đột nh p vào lấy trộm tài sản là một tivi nhãn hiệu TOSHIBA, màn hình ph ng, màu đen, loại 49 inch trên đư ng tìm nơi tiêu thụ thì bị Công an huyện TB và Công an xã BT tuần tra phát hiện bắt giữ Nguyễn Hoàng L, còn Tài tẩu thoát. Bị cáo thống nhất với Bản kết lu n định giá tài sản số 37/KL-HĐ, ngày 30/7/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Thanh Bình kết lu n: Tivi nhãn hiệu TOSHIBA, màn hình ph ng, màu đen, loại 49 inch, Model: 49L5650VN trị giá 7.000.000 đồng.

Như v y, hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của bị hại Phạm Văn L1. Bị cáo nh n th c rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của ngư i khác là vi phạm pháp lu t song vì sự tham lam, tư lợi nên bị cáo v n cố ý thực hiện, thấy được h u quả những v n mong muốn h u quả xảy ra. Khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản thì bị cáo là ngư i thành niên và có năng lực trách nhiệm hình sự.

Với những phân tích nêu trên, đủ cơ sở kết lu n bị cáo Nguyễn Hoàng L đã phạm tội Trộm cắp tài sản , tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ lu t hình sự.

[2 Xét thấy, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh tr t tự tại địa phương. Bị cáo tu i đ i còn trẻ, có đủ s c khỏe để lao động tạo nguồn thu nh p hợp pháp nuôi sống bản thân và gia đình nhưng vì bản chất lư i lao động, mong muốn nhanh chóng có tiền để tiêu xài mà không phải lao động nên bị cáo đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại. Do đó, cần thiết áp dụng m c hình phạt tương x ng với hành vi phạm tội của bị cáo và cần cách ly bị cáo ra khỏi đ i sống xã hội một th i gian nhất định để bị cáo có th i gian học t p, cải tạo để trở thành ngư i tốt, có ích cho gia đình và trở thành một công dân có ích cho xã hội.

[3 Hơn nữa, bị cáo còn có 01 tiền án về tội Trộm cắp tài sản , chưa được xóa tích nhưng bị cáo không biết sửa chữa, không chí thú làm ăn, không tìm công việc lương thiện để tạo ra thu nh p hợp pháp mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trư ng hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ lu t hình sự.

[4 Tuy nhiên, xét thấy trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa bị cáo L thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại có đơn xin bãi nại và xin giảm nh hình phạt cho bị cáo, tài sản bị cáo chiếm đoạt đã trả lại cho bị hại nên thiệt hại không lớn, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn được cấp s hộ nghèo, bị cáo đã ly hôn và hiện nay đang nuôi 02 con nhỏ. Do đó, cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ lu t hình sự để giảm nh một phần hình phạt cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết.

Về v t ch ng: Cơ quan điều tra đã thu giữ của ông Phạm Ngọc L1 01 tấm vải hình chữ nh t có nhiều hoa văn trắng-xanh-xám; bị cáo Nguyễn Hoàng L 01 áo thun ngắn tay, sọc ngang màu xanh – xám, trước ngực áo bên trái có chữ A α F bên trong c áo có chữ Abercrombie α Fitch và 01 quần sọt vải kaki màu xám, trong thắc lưng có chữ DIESEL . Xét thấy, những v t ch ng này không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị hại L1 và bị cáo L là phù hợp.

[7 Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình về khung hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự, về xử lý v t ch ng và trách nhiệm dân sự là có căn c chấp nh n.

[8 Xét đề nghị của Ngư i bào chữa về việc cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp lu t là có căn c chấp nh n.

[9 Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện Thanh Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ lu t tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Ngư i bào chữa cho bị cáo, bị cáo và bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp theo quy định của pháp lu t.

[10 Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp lu t.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn c vào khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ lu t hình sự.

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng L (T) phạm tội Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng L 07 (bảy) tháng tù. Th i hạn chấp hành hình phạt tù tính t ngày 28/7/2018.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết.

- Về v t ch ng: p dụng Điều 47 Bộ lu t hình sự; khoản 3 Điều 106 Bộ lu t Tố tụng hình sự.

+ Trả lại cho ông Phạm Ngọc L1 01 tấm vải hình chữ nh t có nhiều hoa văn trắng-xanh-xám.

+ Trả lại cho bị cáo Nguyễn Hoàng L 01 áo thun ngắn tay, sọc ngang màu xanh – xám, trước ngực áo bên trái có chữ A α F bên trong c áo có chữ Abercrombie α Fitch và 01 quần sọt vải kaki màu xám, trong thắc lưng có chữ DIESEL .

(Các v t ch ng trên hiện do Chi cục thi hành án dân sự huyện TB quản lý).

- Về án phí: p dụng Điều 136 Bộ lu t tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thư ng vụ Quốc hội quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng L (T) phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong th i hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể t ngày nh n được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ