- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Cao Xuân H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tiêu hủy
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH QUẢNG BÌNH Bản án số: 36/2018/HS-ST Ngày: 21-11-2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Phương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Xuân Hòa và ông Nguyễn Duy Phú
- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Duẫn - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 36/2018/TLST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2018/QĐXXST-HS ngày 08/11/2018, đối với bị cáo:
Cao Xuân H, sinh ngày 18/02/1995; tại: xã V, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: thôn H, xã V, huyện T, tỉnh Quảng Bình; không nghề nghiệp; trình độ văn hóa: lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Ngọc Á và bà Trần Thị H; có vợ: Trần Thị Thu T và có 01 con; tiền án: có 01 tiền án: Ngày 23/9/2015 bị Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn xử phạt tiền 10.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”; tiền sự: không;
Ngày 12/7/2018 bị cáo còn thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại thị xã Ba Đồn, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Ba Đồn đã ra Quyết định khởi tố vụ án, Quyết định khởi tố bị can đối với Cao Xuân H. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/9/2018 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Những người bị hại:
Chị Hoàng Thị N, sinh năm 1989. Địa chỉ: thôn N, xã C, huyện Q, tỉnh Quảng Bình.
Chị Trần Thị H, sinh năm 1976. Địa chỉ: thôn T, xã P, huyện Q, tỉnh Quảng Bình.
Bà Đoàn Thị D, sinh năm 1960. Địa chỉ: thôn T, xã Q1, huyện Q, tỉnh Quảng Bình.
Chị Phạm Thị L, sinh năm 1974. Địa chỉ: thôn H, xã Q2, huyện Q, tỉnh Quảng Bình.
- Người làm chứng:
Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1959. Địa chỉ: khu phố 3, phường B, thị xã B, tỉnh Quảng Bình.
Tất cả những người bị hại và người làm chứng đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 11 giờ ngày 26/6/2018, do thiếu tiền mua ma túy để sử dụng nên Cao Xuân H đã nảy sinh ý định vào nhà dân để trộm cắp tài sản. H mượn xe mô tô của bố ruột là ông Cao Ngọc Á chạy đến thôn N, xã C, H nhìn thấy nhà của nhà Hoàng Thị N đóng cửa nên đã vào cạy tủ. H nhìn vào trong ngăn đựng đồ bên trái cửa tủ có một túi ni lon màu trắng bên trong đựng 01 dây chuyền kim loại màu vàng, 01 nhẫn kim loại màu vàng, 01 đôi bông tai kim loại màu vàng. H lấy tất cả số tài sản trên mang về cửa hàng vàng bạc đá quý N ở chợ B bán được số tiền 6.800.000 đồng.
Quá trình điều tra, Cao Xuân H còn khai nhận đã thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản khác tại địa bàn huyện Q. Cụ thể:
- Vụ thứ nhất: Vào khoảng 13 giờ ngày 28/02/2018, Cao Xuân H điều khiển xe mô tô của bố ruột là ông Cao Ngọc Á đi từ thôn H, xã V, huyện T đến thôn T, xã P, huyện Q thì phát hiện nhà của chị Trần Thị H không đóng cửa. H phát hiện 01 chiếc tủ gỗ có hai cánh tủ đều đóng. H giật mạnh vào tay cầm làm cánh cửa tủ mở ra. Nhìn vào bên trong tủ có một bao lác được gấp gọn gàng, H mở bao lác ra thì phát hiện bên trong có số tiền 2.700.000 đồng. H cất giấu số tiền trên vào túi quần rồi điều khiển xe mô tô đi xuống thị xã B mua ma túy sử dụng và tiêu xài ăn uống hết số tiền trên.
- Vụ thứ hai: Vào khoảng 08 giờ một ngày cuối tháng 5/2018, Cao Xuân H điều khiển xe mô tô của bố ruột là ông Cao Ngọc Á đi từ thôn H, xã V, huyện T đến thôn T, xã Q1, huyện Q thì phát hiện ngôi nhà hai tầng của chị Đoàn Thị D phía sau nhà có một ngôi nhà ngang không đóng cửa H dùng tay lật tấm nệm trải giường lên thì phát hiện 02 phong bì thư bên trong có tiền, H lấy số tiền 5.000.000 đồng xuống thị xã B mua ma túy để sử dụng và tiêu xài ăn uống hết số tiền trên.
- Vụ thứ ba: Vào khoảng 15 giờ một ngày giữa tháng 6/2018, Cao Xuân H điều khiển xe máy của vợ là Trần Thị Thu T đi từ thị xã B đến tại thôn H, xã Q2 thì phát hiện nhà của chị Phạm Thị L không có ai ở nhà. H đi ra phía chân cầu thang phát hiện 01 chiếc kìm, H dùng chiếc kìm phá khóa hộp sắt và mở hộp sắt ra thì nhìn thấy bên trong có 01 phong bì thư đựng tiền, H cầm phong bì thư và lấy 01 con lợn nhựa màu đỏ đựng tiền tiết kiệm của chị L và vứt chiếc kìm lại. Sau đó H xuống bếp và lấy 01 con dao cắt vào cổ con lợn nhựa lấy hết số tiền 60.000 đồng bên trong và vứt con dao cùng con lợn ở góc gian bếp. Sau đó H cầm phong bì thư đựng tiền cùng số tiền 60.000 đồng bên trong con lợn nhựa đi ra khỏi nhà chị L. Khi về nhà H mở phong bì thư ra đếm được số tiền 16.000.000 đồng. Tổng số tiền H lấy trộm của chị Lương là 16.060.000 đồng (mười sáu triệu không trăm sáu mươi nghìn đồng), H dùng số tiền trên để mua ma túy và tiêu xài cá nhân hết.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 25/KL-HĐ của hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự của UBND huyện Quảng Trạch ngày 25/7/2018 kết luận: 01 đôi bông tai bằng kim loại vàng 14k trọng lượng 2 chỉ trị giá 3.960.000 đồng; 01 sợi dây chuyền kim loại vàng 14k trọng lượng 5,3 chỉ trị giá 10.494.000 đồng; 01 mặt nạ kim loại vàng 14k trọng lượng 1,3 chỉ trị giá 2.574.000 đồng; 01 nhẫn kim loại vàng 14k trọng lượng 1,5 chỉ trị giá 2.970.000 đồng; 01 dây chuyền kim loại bạc có trọng lượng 01 lượng trị giá 630.000 đồng. Tổng giá trị thiệt hại về tài sản là 20.628.000 (hai mươi triệu sáu trăm hai mươi tám ngàn đồng).
Quá trình điều tra, bị hại Hoàng Thị N khai rõ vào thời điểm mất số kim loại vàng 14k thì không rõ thời gian mất sợi dây chuyền bằng kim loại bạc. Phía Cao Xuân H khai nhận lấy trộm tài sản tại nhà chị Hoàng Thị N gồm: 01 đôi bông tai bằng kim loại vàng 14k trọng lượng 2 chỉ trị giá 3.960.000 đồng; 01 sợi dây chuyền kim loại vàng 14k trọng lượng 5,3 chỉ trị giá 10.494.000 đồng; 01 mặt nạ kim loại vàng 14k trọng lượng 1,3 chỉ trị giá 2.574.000 đồng; 01 nhẫn kim loại vàng 14k trọng lượng 1,5 chỉ trị giá 2.970.000 đồng. Tổng giá trị thiệt hại về tài sản mà Cao Xuân H chiếm đoạt của chị Hoàng Thị N là 19.998.000 đồng (mười chín triệu chín trăm chín mươi tám ngàn đồng).
Như vậy, tổng giá trị thiệt hại về tài sản mà Cao Xuân H chiếm đoạt của các bị hại Hoàng Thị N, Trần Thị H, Đoàn Thị D và Phạm Thị L là 43.758.000 đồng (bốn mươi ba triệu bảy trăm năm mươi tám ngàn đồng).
Liên quan trong vụ án có bà Nguyễn Thị H là chủ cửa hàng vàng Ngân H đã mua số vàng mà bị cáo H đã lấy trộm của chị Hoàng Thị N. Tuy nhiên khi mua bà Hà không biết đó là tài sản do H trộm cắp mà có, vì vậy không bị xử lý về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Số vàng 14k mà H bán cho bà Hà đã được đúc thành phẩm khác nên không thể thu hồi được.
Về trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại: Quá trình điều tra, bị cáo Cao Xuân H và những người bị hại Hoàng Thị N, Trần Thị H, Đoàn Thị D và Phạm Thị L đã thỏa thuận với nhau về dân sự trong vụ án. Cụ thể: bị cáo H đã bồi thường cho bà Đoàn Thị D số tiền 4.000.000 đồng; bồi thường cho chị Phạm Thị L số tiền 15.500.000 đồng; bồi thường cho chị Trần Thị H số tiền 2.000.000 đồng; bồi thường cho chị Hoàng Thị N số tiền 16.000.000 đồng. Các bên đã giao nhận tiền đầy đủ và những người bị hại không yêu cầu bồi thường thêm.
Về vật chứng vụ án: qua quá trình điều tra, cơ quan cảnh sát điều tra đã thu giữ những vật chứng sau:
- 01 con dao có chiều dài khoảng 41cm, phần lưỡi dao làm bằng kim loại dài khoảng 29 cm, cán dao làm bằng gỗ dài khoảng 12 cm, đường kính khoảng 3cm.
- 01 ổ khóa màu đen hãng Việt Tiệp, trên ổ khóa có đeo hai chìa khóa, ổ khóa đã bị hỏng không còn khóa được.
- 01 chiếc kìm dài khoảng 20cm, cán kìm bằng nhựa màu hồng đen dài khoảng 13cm, trên cán kìm có ký hiệu “MEINFA”, thân kìm được làm bằng kim loại dài khoảng 7cm đã bị ghỉ sét.
- 01 con dao dài khoảng 20cm, lưỡi dao bằng kim loại trắng sáng dài khoảng 10cm, cán dao làm bằng nhựa màu vàng nhạt dài khoảng 10cm.
- 01 con lợn nhựa màu đỏ, ở phần đầu đã bị cắt hỏng dài khoảng 30cm.
Tại Cáo trạng số 37/CT-VKSQT ngày 02 tháng 11 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch đã truy tố các bị cáo Cao Xuân H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng, có xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; điểm g, tiết 1 điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Cao Xuân H từ 09-12 tháng tù, tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 10/9/2018. Về phần dân sự: không xem xét. Về xử lý vật chứng: điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 02 con dao, 01 ổ khóa Việt Tiệp, 01 chiếc kìm, 01 con lợn nhựa.
Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và nhất trí với tội danh, khung hình phạt, mức hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch đã truy tố, kết tội các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Cao Xuân H đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản mà bị cáo đã thực hiện tại địa bàn xã P, Q1, Q2 và C. Bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở trong việc bảo vệ, quản lý tài sản của những người bị hại, đã lén lút chiếm đoạt tài sản của chị Hoàng Thị N, Trần Thị H, Đoàn Thị D và Phạm Thị L với tổng giá trị thiệt hại về tài sản là 43.758.000 đồng. Xét thấy, lời khai của bị cáo tại phiên tòa và trong quá trình điều tra là hoàn toàn phù hợp và thống nhất, thống nhất với lời khai của những người bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được tại hồ sơ vụ án và vật chứng thu giữ. Do vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Cao Xuân H phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cùng các tình tiết khác có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội nói chung, gây tâm lý bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là thanh niên có sức khỏe, đã có vợ con, lẽ ra phải chịu khó tu dưỡng, rèn luyện, tìm việc làm có thu nhập để chăm lo gia đình, trở thành công dân có ích cho xã hội nhưng do thiếu bản lĩnh, lười lao động, do đã nghiện ma túy nên đã dẫn đến hành vi phạm tội trộm cắp tài sản để lấy tiền mua ma túy sử dụng và tiêu xài cá nhân. Vì vậy, bị cáo phải bị xét xử nghiêm với hình phạt tương xứng mới đủ tác dụng giáo dục ý thức tôn trọng và tuân thủ pháp luật cho bị cáo. Xét thấy, cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo mới có đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người con có ích đối với gia đình và người công dân có ích đối với xã hội.
Xét về tình tiết tăng nặng, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp tài sản nhiều lần. Bị cáo là người có nhân thân thân xấu, đã có 01 tiền án, ngày 23/9/2015 bị Tòa án nhân dân Thị xã B xử phạt số tiền 10.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp tài sản. Đây là những tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm g, tiết 1 điểm h Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự cần phải áp dụng cho bị cáo
Xét về các tình tiết giảm nhẹ thấy rằng: Bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; khi có quyết định truy nã bị cáo đã ra đầu thú, bị cáo đã chủ động bồi thường thiệt hại cho những người bị hại và đã được những người bị hại làm đơn đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự được áp dụng cho bị cáo.
Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị cáo Cao Xuân H và những người bị hại Hoàng Thị N, Trần Thị H, Đoàn Thị D và Phạm Thị L đã thỏa thuận với nhau về vấn đề bồi thường thiệt hại. Trong quá trình điều tra và đến tại thời điểm xét xử sơ thẩm những người bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng:
Xét các vật chứng là công cụ bị cáo H dùng phạm tội và các vật chứng liên quan đến việc phạm tội đã không còn giá trị sử dụng vì vậy áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tiêu hủy: 01 con dao có chiều dài khoảng 41cm, 01 ổ khóa màu đen hãng Việt Tiệp, 01 chiếc kìm, 01 con dao dài khoảng 20cm, 01 con lợn nhựa màu đỏ.
Về án phí: Buộc bị cáo Cao Xuân H phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản 1 Điều 173; các điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; các điểm g, h Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Tuyên bố bị cáo Cao Xuân H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Cao Xuân H 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam là ngày 10/9/2018.
Tiếp tục tạm giam bị cáo Cao Xuân H với thời hạn 45 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 21/11/2018) theo Quyết định của Hội đồng xét xử.
2. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét
3. Về xử lý vật chứng: Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 con dao có chiều dài khoảng 41cm, 01 ổ khóa màu đen hãng Việt Tiệp, 01 chiếc kìm, 01 con dao dài khoảng 20cm, 01 con lợn nhựa màu đỏ.
Các vật chứng trên có đặc điểm được mô tả cụ thể tại Biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quảng Trạch với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Trạch ngày 02/11/2018.
4. Về án phí: Buộc bị cáo Cao Xuân H phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào công quỹ nhà nước.
Án xử sơ thẩm công khai, báo cho bị cáo, những người bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 21/11/2018) đối với người có mặt và trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án đối với người vắng mặt.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Bình; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình; - Công an huyện Quảng Trạch; - VKSND huyện Quảng Trạch; - THADS huyện Quảng Trạch; - Bị cáo; những người bị hại; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Lan Phƣơng |