vanban.org

Bản án 36/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 28/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đặng Văn T phạm tội “Nhận hối lộ”.

Xử phạt bị cáo Đặng Văn T 10 (mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, được trừ thời gian bị tạm giam từ ngày 17/4/2018 đến ngày 01/6/2018. Về biện pháp tư pháp: Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 7 Điề u 364 của Bộ luật Hình sự; Điề u 106 của Bộ luậ t tố tụ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Văn T - phạm tội nhận hối lộ (điều 354 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đặng Văn T phạm tội “Nhận hối lộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG NÔ
TỈNH ĐĂK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2018/HS-ST
Ngày 28/11/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NÔ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Nhi.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Hà; Ông Phạm Đình Bông.

- Thư ký phiên tòa: Ông Vi Thế Nam – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Nô.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Vũ Hồng Hoa – Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Nô, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 41/2018/HSST ngày 13 tháng 11 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2018/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo:

Đặng Văn T, sinh ngày 10/02/1970, tại tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: tổ 6, thị trấn Đ, huyện K, tỉnh Đăk Nông; nghề nghiệp: Cán bộ Trung tâm phát triển quỹ đất; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Quang V và bà Nguyễn Thị Đ; có vợ và 02 con; bị tạm giam từ ngày 17/4/2018 đến ngày 01/6/2018 được tại ngoại - Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Nguyễn Trọng Đ, sinh năm 1970; Địa chỉ: thôn X, xã Đ, huyện K, tỉnh Đăk Nông – Vắng mặt. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

2. Chị Phùng Thị H, sinh năm 1976; Địa chỉ: thôn X, xã Đ, huyện K, tỉnh Đăk Nông – Vắng mặt.

3. Chị Phùng Thị T, sinh năm 1970; Địa chỉ: xóm 3, xã B, huyện G, tỉnh Nam Định – Vắng mặt. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

Người làm chứng: Ông Bùi Tấn B, sinh năm 1966; Địa chỉ: buôn K, xã D, huyện K, tỉnh Đăk Nông – Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2014, UBND tỉ nh Đắ k Nông có chủ trương đền bù, hỗ trợ người dân khi thực hiện công trì nh hạ lưu nhà má y thủ y điệ n Buôn Tua Srah , hạng mục: Sạt lở, ngậ p ú ng xã Đ (đợ t 4 năm 2015). Chủ đầu tư: Công ty thủ y điệ n Buôn Kuố p , đơn vị thực hiện bồi thường: Trung tâm phá t triể n quỹ đấ t huyệ n K, số hộ bị thu hồ i: 41 hộ ; Tổ ng diệ n tí ch bị thu hồ i : 100.793,6m2; tổ ng kinh phí bồ i thườ ng , hỗ trợ : 6.670.018.510đ (trong đó : bồ i thườ ng về đấ t là 1.662.442.400đ; bồ i thườ ng về cây trồ ng là 473.236.500đ; chính sách hỗ trợ là 4.167.357.080đ; kinh phí thự c hiệ n công tá c bồ i thườ ng , hỗ trợ là 346.551.000đ). Sau đó , trên cơ sở đơn tố cá o củ a ngườ i dân tạ i xã Đ, huyệ n K, tỉnh Đắk Nông (đơn không ghi tên ngườ i tố cá o ) về việ c mộ t số hộ dân trên đị a bà n xã Đ lậ p hồ sơ khố ng để chiế m đoạ t tiề n đề n bù của nhà nước đối với dự án trên , cơ quan cả nh sá t điề u tra công an huyệ n Krông Nô đã tiế n hà nh điề u tra, xác minh.

Trong quá trì nh xá c minh, ngày 10/10/2018 Cơ quan cả nh sá t điề u tra công an huyệ n Krông Nô nhậ n đượ c đơn tố cá o củ a ông Nguyễ n Trọ ng Đ , là người được nhậ n tiề n đề n bù , hỗ trợ trong dự á n trê n, ông Đ tố cá o Đặ ng Văn T là cán bộ của Trung tâm phá t triể n quỹ đấ t huyệ n K có hành vi nhận hối lộ.

Sau khi tiế n hà nh điề u tra xá c đị nh : Từ năm 2012, Đặng Văn T là cán bộ hợp đồ ng củ a Trung tâm phá t triể n quỹ đấ t huyệ n K , tỉnh Đắ k Nông . Tháng 04/2015, Đặng Văn T đượ c giao nhiệ m vụ lậ p phương á n đề n bù , hỗ trợ cho cá c hộ i dân chịu ảnh hưởng của công trình thủy điện Buôn Tua Srah đợt 4 năm 2015 tại địa bàn xã Đ, huyệ n K. Đế n thá ng 07/2016, T lậ p dự thảo phương án đền bù hỗ trợ cho các hộ dân trong khu vực được đền bù hỗ trợ và niêm yết tại Ủy ban nhân dân xã Đ (trong dự thả o phương á n, thử a đấ t số 6, 7, 8 của ông Nguyễn Trọng Đ và thửa đất số 10, 13 đều cùng tờ b ản đồ số 8 của bà Phùng Thị T (là chị gái của vợ ông Đ ) không đủ điề u kiệ n để đượ c nhậ n tiề n đề n bù ). Khi xem dự thả o phương á n, ông Đ thấ y diệ n tí ch đấ t củ a gia đì nh trong khu vự c đượ c đề n bù nhưng lạ i không đượ c nhậ n tiề n đề n bù và biế t T là cán bộ Trung tâm phát triển quỹ đất huyện K , cũng là ngườ i trự c tiế p thự c hiệ n lậ p phương á n , nên ông Đ gặ p T. Theo đó , ông Đ và T thỏa thuận, ông Đ sẽ đưa tiề n cho T, còn T giúp gia đình ông Đ và g ia đì nh bà T đượ c lậ p phương á n nhậ n tiề n đề n bù . Khoảng 01 tuầ n sau, ông Đ cù ng vợ là bà Phùng Thị H ra nhà T, ông Đ đưa cho T số tiề n 15.000.000 đồ ng và thỏ a thuậ n sau khi xong việ c sẽ đưa thêm . Sau khi nhậ n tiề n củ a ông Đ , T đã lợ i dụ ng quyề n hạ n đượ c giao để lậ p phương á n bổ sung danh sá ch để ông Nguyễ n Trọ ng Đ và bà Phùng Thị T nhậ n đượ c tiề n đề n bù , hỗ trợ củ a Nhà nướ c. Ngày 23/01/2017 ông Đ, bà T đã nhậ n đượ c tiề n đề n bù hỗ trợ củ a n hà nước (cụ thể: Ông Đ nhậ n đượ c số tiề n: 236.015.936 đồ ng, bà T nhậ n đượ c số tiề n : 135.968.000 đồ ng). Đế n ngà y 24/01/2017, ông Nguyễ n Trọ ng Đ cù ng vợ ra nhà

T và đưa cho T số tiề n 35.000.000 đồ ng. Tổ ng số tiề n T nhậ n để là m theo yêu cầ u củ a ông Đ là 50.000.000 đồ ng, toàn bộ số tiền này T đã tiêu xà i cá nhân hế t.

Trong quá trì nh điề u tra , Đặng Văn T tự nguyệ n giao nộ p cơ quan cả nh sá t

điề u tra công an huyệ n Krông Nô số tiề n 50.000.000 đồ ng.

Cáo trạng số: 40/CT-VKS ngày 12/11/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô đã truy tố bị cáo Đặng Văn T về tội “Nhận hối lộ” theo quy đị nh tạ i điểm a khoản 1 Điề u 354 của Bộ luậ t hì nh sự .

Tại phiên tòa, bị cáo Đặng Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô thực hành quyền công tố luận tội và tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đặng Văn T phạm tội “Nhận hối lộ”; Áp dụng điểm a khoản 1 Điề u 354; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đặng Văn T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vậ t chứ ng: Căn cứ khoản 7 Điề u 364 của Bộ luật Hình sự 2015; khoản 2 Điề u 106 Bộ luậ t tố tụng hì nh sự năm 2015. Chấ p nhậ n cơ quan cả nh sá t điề u tra công an huyệ n Krông Nô trả ông Nguyễ n Trọ ng Đ số tiề n 50.000.000 đồ ng.

Bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Krông Nô, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

. Bị cáo Đặng Văn T là nhân viên Trung tâm phá t triể n quỹ đấ t huyệ n Krông Nô, khoảng tháng 07/2016 bị cáo T đượ c giao nhiệ m vụ lậ p phương á n đề n bù , hỗ trợ cho người dân chịu ảnh hưởng của công trình thủy điện Buôn Tua Srah đợt 4 năm 2015 tại địa bà n xã Đ , huyệ n K. Trong khu vực này có đất của gia đình ông Nguyễ n Trọ ng Đ và gia đì nh bà Phù ng Thị T nhưng không đượ c nhậ n tiề n đề n bù , hỗ trợ . Ông Nguyễ n Trọ ng Đ đã gặ p bị cáo T và thỏa thuận ông Đ sẽ đưa tiền cho bị cáo T, còn bị cáo T giúp gia đình ông Đ và gia đình bà T đượ c lậ p phương á n nhậ n tiề n đề n bù . Khoảng 01 tuầ n sau , ông Đ đến nhà bị cáo T đưa số tiề n 15.000.000 đồ ng và thỏ a thuậ n sau khi xong việ c sẽ đưa thêm . Sau khi nhậ n tiề n của ông Đ, bị cáo T lợ i dụ ng quyề n hạ n đượ c giao đã lậ p phương á n bổ sung để gia đì nh ông Đ, bà T nhậ n đượ c tiề n đề n bù hỗ trợ . Sau khi nhậ n được tiề n hỗ trợ, đền bù, ngày 24/01/2017 ông Đ tiế p tục đưa bị cáo T số tiề n 35.000.000 đồ ng. Như vậy, hành vi của bị cáo Đặng Văn T bị Viện kiểm sát nhân huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông truy tố về tội “Nhận hối lộ” theo quy đị nh tạ i điểm a khoản 1 Điề u 354 của Bộ luậ t hì nh sự là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan.

Điều 354 của Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian nhận hoặc sẽ nhận bất kỳ lợi ích nào sau đây cho chính bản thân người đó hoặc cho người hoặc tổ chức khác để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm hoặc đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục 1 Chương này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;”

. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra và nhân thân của bị cáo:

3.1. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến hoạt động đúng đắn, uy tín của các cơ quan hành chính nhà nước. Ngoài ra, hành vi phạm tội của bị cáo còn làm giảm lòng tin của nhân dân đối với cơ quan hành chính nhà nước. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo hình phạt tương xứng để giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật; đồng thời giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa tội phạm.

3.2. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của bị cáo; bị cáo đã tự nguyện giao nộp số tiền 50.000.000 đồng để khắc phục hậu quả; cha của bị cáo là người có công với cách mạng, được thưởng huân chương kháng chiến hạng nhì. Do đó Hội đồng xét xử có căn cứ để áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy cần áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật.

. Đối với hành vi đưa tiền hối lộ của ông Nguyễn Trọng Đ, ông Đ đã nhậ n thứ c đượ c hà nh vi sai phạ m củ a mì nh nên đã tự mì nh thu thậ p cá c tà i liệ u, chứ ng cứ để khai bá o vớ i cơ quan điề u tra khi hà nh vi chưa bị phá t hiện , quá trình điều tra ông Đạ o đã thà nh khẩ n khai bá o, ăn năn hố i cả i và gó p phầ n hiệ u quả và o việ c phá t hiệ n và điề u tra tộ i phạ m . Xét thấy, căn cứ điể m c khoả n 1 Điề u 29; khoản 7 Điề u 364 của Bộ luậ t hì nh sự ; điể m a khoả n 1 Điề u 230 Bộ luậ t tố tụ ng hì nh sự miễ n trách nhiệm hình sự cho ông Nguyễn Trọng Đ , đì nh chỉ điề u tra đố i vớ i vụ á n Đưa hố i lộ là có cơ sở, đú ng quy đị nh củ a phá p luậ t.

Bà Phùng Thị H không biết việc thỏa thuận giao nhận tiền giữ a ông Đ và Đặng Văn T là để hối lộ nên không có căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự.

Bà Phùng Thị T không biết ông Đ đi gặ p và đưa tiề n hối lộ cho Đặng Văn T để T lậ p phương á n đề n bù cho gia đì nh T, vì vậy không có căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự.

Đối với mộ t số hộ dân tạ i đị a bà n xã Đ , huyện K có hành vi lập hồ sơ khống (bằ ng cá ch chia nhỏ diệ n tí ch đấ t củ a mì nh và nhờ nhiề u ngườ i khá c đứ ng tên ) để chiế m đoạ t tiề n củ a nhà nướ c trong dự á n đền bù, hỗ trợ đợ t 4 năm 2015 của công ty thủ y điệ n Buôn Kuố p tạ i đị a bà n xã Đ , huyệ n K. Cơ quan cả nh sá t điề u tra công an huyệ n Krông Nô đang điề u tra, xác minh để xử lý theo quy định của pháp luật.

. Về biện pháp tư pháp: Xử lý vật chứng: Áp dụng Điề u 47; khoản 7 Điề u 364 của Bộ luật Hình sự; Điề u 106 Bộ luậ t tố tụng hì nh sự. Chấ p nhậ n cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Krông Nô trả ông N

guyễ n Trọ ng Đ số tiề n 50.000.000 đồ ng.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Đặng Văn T phạm tội “Nhận hối lộ”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điề u 354; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Đặng Văn T 10 (mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, được trừ thời gian bị tạm giam từ ngày 17/4/2018 đến ngày 01/6/2018.

2. Về biện pháp tư pháp: Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 7 Điề u 364 của Bộ luật Hình sự; Điề u 106 của Bộ luậ t tố tụng hì nh sự. Chấ p nhậ n cơ quan cả nh sá t điề u tra công an huyệ n Krông Nô trả ông Nguyễ n Trọ ng Đ số tiề n 50.000.000 đồ ng.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí toà án.

Buộc bị cáo Đặng Văn T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc Tòa án niêm yết bản án lên Tòa án cấp trên yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ