vanban.org

Bản án 36/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

̀ 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội;

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của Chị Đỗ Thị Đ được ly hôn với Anh Lê Minh C. Về con chung: Giao con chung tên Lê Ngo ̣c Giáng M , sinh ngày 07/12/2014 cho chị Đ trực tiếp nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? ̀ 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội;
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 04/10/2018
“ V/v tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Minh Tri

́

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đỗ Minh Tân

2. Bà Trần Thi ̣ Phiến

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Bửu Linh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bạch Nhạn, Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 10 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu, Thành tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đinh thụ

̀ lý số: 86/2018/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 3 năm 2018 vụ án “Tranh chấp ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 136/2018/QĐXX-ST ngày 12 tháng 9 năm 2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị Đ, sinh năm 1994;

Địa chỉ: Ấp T, xã V, huyê ̣n Hò a Binh, tỉnh Bạc Liêu.

̀

Bị đơn: Anh Lê Minh C, sinh năm 1993;

Địa chỉ: Ấp P, xã A, huyê ̣n Châu Thành, Đồng Tháp.

(Các đương sự có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 09/3/2018, lời khai tại Tòa án trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn Chị Đỗ Thị Đ trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị Đ và Anh Lê Minh C do quen biết, tìm hiểu được một năm rồi tiến tới hôn nhân , anh chi ̣ được hai bên gia đinh tổ

̀ chức lễ cưới và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 22/01/2015 tại UBND xã A, huyê ̣n Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.

Chung sống được mô ̣t thờ i gian đến tháng 9/2017, vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn , cuô ̣c sống không hạnh phúc , thườ ng xuyên cai vã ̉ . Nguyên nhân là do anh C ham chơi, không quan tâm chăm só c vợ con không lo làm ăn để xây dựng gia đinh , bên gia đinh nhà chồng thi coi thườ ng và ứ c

̀

̀

̀ hiếp chị Đ. Hiê ̣n chi ̣ và anh C đa sỗ ́ng ly thân từ tháng 9/2017 cho đến nay.

Do mâu thuẫn đa trỡ ̉ nên trầm tro ̣ng , thờ i gian sống ly thân hai bên cũng không qua la ̣i nên tinh cảm vợ chồng đa la ̣̃ nh nha ̣t không thể nào hàn gắn được

̀ nữa.

Nay Chị Đỗ Thị Đ không còn tình cảm nên yêu cầu xin ly hôn vớ i Anh Lê Minh C.

- Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Ngo ̣c Giáng M , sinh ngày 07/12/2014, hiê ̣n đang sống vớ i chị Đ.

Sau khi ly hôn, chị Đ yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung là Lê Ngo ̣c Giáng M, không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại các lời khai trong quá trình Tòa án giải quyết và tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn Anh Lê Minh C trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh C thống nhất theo lờ i trinh bày của chị Đ

̀ về quan hê ̣ hôn nhân . Thờ i gian đầu, vợ chồng anh chung sống rất hạnh phúc . Chung sống được mô ̣t thờ i gian, giữa anh và chị Đ bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do tinh tinh của cả hai không hợp nên thườ ng xuyên xảy ra tranh cả. Đồng thời,i

́

̀ anh C cho rằng chị Đ có lời nói, thái độ cư xử không đúng mực với mẹ chồng , không tôn tro ̣ng me ̣ ruô ̣t anh . Từ đó , làm cho mâu thuẫn giữa anh và chị Đ trở nên trầm trọng, tình cảm vợ chồng không thể nào hàn gắn được nữa.

Vì vậy, chị Đ bỏ về nhà cha mẹ ruột (Ấp T, xã V, huyê ̣n Hòa Binh, tỉnh

̀ Bạc Liêu ) sống ly thân vớ i anh từ tháng 11/2017 cho đến nay . Hiê ̣n ta ̣i, anh không còn tinh cảm vớ ichị Đ, nay chị Đ yêu cầu ly hôn thì anh C đồng ý.

̀

- Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Ngo ̣c Giáng M , sinh ngày 07/12/2014, hiê ̣n đang sống vớ i chị Đ nhưng từ khi vợ chồng sống ly thân , cách khoảng 01 tháng anh vẫn đón cháu M về nhà anh để thăm ông bà nô ̣i vài ngày, hiê ̣n nay anh đa đưa cháu M về sỗ

́ng vớ i chị Đ.

Sau khi ly hôn, anh C yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Ngo ̣c Giáng M, không yêu cầu chị Đ cấp dưỡng nuôi con. Anh không thống nhất yêu cầu của chị Đ.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự: thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp cũng như tư cách của người tham gia tố tụng, thu thập đầy đủ chứng cứ để làm căn cứ giải quyết vụ án. Tại phiên toà Hội đồng xét xử (HĐXX) đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm; Người tham gia tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

- Về nô ̣i dung: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử: Về quan hê ̣ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của Chị Đỗ Thị Đ được ly hôn với Anh Lê Minh C; Về con chung: Giao con chung tên Lê Ngo ̣c Giáng M, sinh ngày 07/12/2014 cho Chị Đỗ Thị Đ trực tiếp nuôi dưỡng, anh C có quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyềncản trở. Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn là Chị Đỗ Thị Đ khở i kiê ̣n yêu cầu ly hôn Anh Lê Minh C có địa chỉ tại Ấp P, xã A, huyê ̣n Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp nên đây là vu ̣ án “Tranh chấp ly hôn” thuô ̣c thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyê ̣n Châu Thành theo quy đi ̣nh ta ̣i khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân:

Chị Đỗ Thị Đ và Anh Lê Minh C chung sống với nhau năm 2015 có đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyê ̣n Châu Thành , tỉnh Đồng Tháp 22/01/2015 nên được xác định là hôn nhân hợp pháp.Thời gian đầu, anh chi ̣ chung sống hạnh phúc, đến tháng 9/2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh C không lo làm ăn để xây dựng gia đinh mà chi chơi bở

̀ i , gia đinh nhà

̀

̀ chồng thi coi thườ ng và ứ c hiếp chị Đ vì vậy chị Đ đa bõ ̉ về nhà me ̣ ruô ̣t và

̀ sống ly thân vớ i anh C từ tháng 9/2017 đến nay. Về phía anh C cho rằng do tính tình của cả hai không hợp nên thường xuyên xảy ra tranh cải. Đồng thời, chị Đ có lời nói, thái đô ̣ cư xử không đúng mực vớ i me ̣ chồng, không tôn tro ̣ng me ̣ ruô ̣t anh. Từ đó , làm cho mâu thuẫn giữa anh và chị Đ trở nên trầm tro ̣ng, tình cảm vợ chồng thông thể nào hàn gắn được nữa.

Xét thấy hôn nhân bền vững phải dựa trên cơ sở tự nguyện. Từ khi chị Đ và anh C sống ly thân cho đến nay anh, chị cũng không có giải pháp nào để vợ chồng hàn gắn, đoàn tụ trở lại. Tại phiên tòa, cả hai trình bày cương quyết ly hôn vì tình cảm không còn. Như vậy chứng tỏ mâu thuẫn giữa anh, chị đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử xét thấy nếu để anh, chị chung sống trở lại cũng không tạo được một gia đình hạnh phúc, bền vững. Do vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Chị Đỗ Thị Đ được ly hôn với Anh Lê Minh C.

Về con chung: Chị Đ và anh C chung sống với nhau có 01 con tên Lê Ngọc Giáng M, sinh ngày 07/12/2014, hiê ̣n đang sống với chị Đ.

Quá trình tham gia tố tụng , chị Đ và anh C đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là chính đáng là phù hợp với đạo đức xã hội , đồng thờ i cũng là quyền và nghia vu ̣̃

của cha me ̣ đối vớ i con chưa thành niên . Tuy nhiên viê ̣c giao con cho ai nuôi cần phải xem xét về mo ̣i mă ̣t và quyền lợi của con chưa thành niên.

Xét thấy, anh C và chị Đ đều có công việc và thu nhâ ̣p ổn đi ̣nh nhưng cháu M hiê ̣n đang sống chung vớ i chị Đ, cuô ̣c sống cũng đảm bảo . Vì vậy, để tránh ảnh hưởng đến sự phát triển ổn định về tin thần và thể chất của cháu M nên Hô ̣i đồng xét xử quyết đi ̣nh giao cháu M cho chị Đ trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp vớ i điều kiê ̣n hiê ̣n ta ̣i.

Về tài sản chung: Không co.́

Về nợ chung: Không có.

Từ những phân tích trên, xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành về quan điểm giải quyết vụ án là có căn cứ nên HĐXX chấp nhận.

Chị Đỗ Thị Đ phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào các Điều 28, 35 và Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự ; Điều 51, 56, 81 và Điều 83 của Luật Hô n nhân và gia đinh ; Nghị quyết

̀ 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội;

Xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của Chị Đỗ Thị Đ được ly hôn với Anh Lê Minh C.

- Về con chung: Giao con chung tên Lê Ngo ̣c Giáng M , sinh ngày 07/12/2014 cho chị Đ trực tiếp nuôi dưỡng.

Sau khi ly hôn, chị Đ và anh C có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai có quyền cản trở anh , chị thực hiện quyền này . Trườ ng hợp, anh C lạm dụng viê ̣c đi la ̣i, thăm nom con gây ảnh hưở ng xấu đến viê ̣c chị Đ nuôi con thi chị Đ có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con

̀ của anh C theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t. Vì quyền lợi hợp pháp của con , Tòa án có thể thay đổi ngườ i trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng nuôi con theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

- Về án phí: Chị Đỗ Thị Đ nộp 300.000đ án phí hôn nhân gia đinh sơ

̀ thẩm, được khấu trừ số tiền ta ̣m ứ ng án phi chị Đ đã nộp 300.000đ theo biên lai

́

số 02952 ngày 23/3/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyê ̣n Châu Thành , như vâ ̣y chị Đ đã nộp xong án phí.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

Cỡ chữ