vanban.org

Bản án 36/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Ngọc T.

2/ Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị H trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Ngọc Bảo A, sinh ngày 17/6/2009 và cháu Nguyễn Ngọc Bảo B, sinh ngày 09/12/2015. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở. 3/ Về án phí: Căn cứ khoản… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "BA HNGĐ Nguyễn Thị H - Nguyễn Ngọc T"
  • Tòa quyết gì? 1/ Cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Ngọc T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN LẠC
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2018/HNGĐ- ST
Ngày 26 - 11- 2018
“V/v Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Minh Tuấn

- Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Bùi Thị Kim Thanh

2/ Ông Hoàng Văn Khảm

- Thư ký phiên tòa: Vũ Văn Tiệp- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Giang- Kiểm sát viên

Ngày 26 tháng 11 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 166/2018/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2018 “ V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2018/QĐXXST- HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1990 (có mặt).

Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1987 (vắng mặt).

Đều có địa chỉ: Thôn MY, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn Tòa án nhận được ngày 29/6/2018 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:

Chị và anh T kết hôn với nhau ngày 05/9/2008 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y. Thời gian đầu chung sống vợ chồng hạnh phúc, về sau vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh T không chịu tu chí làm ăn mà thường xuyên chơi lô đề, cờ bạc dẫn đến nợ nần, ngoài ra anh T còn nghiện mu túy từ năm 2010 cho đến nay. Năm 2013 anh T bị xét xử 30 tháng tù về hành vi liên quan đến ma túy, chấp hành xong năm 2015, chị đã nhiều lần động viên, khuyên giải nhưng anh T vẫn không từ bỏ được ma túy. Hiện tại chị và anh T đã sống ly thân với nhau, chị xác định không còn tình cảm nên đề nghị được ly hôn.

Về con chung: Chị H và anh T có 02 con chung là cháu Nguyễn Ngọc Bảo A, sinh ngày 17/6/2009 và cháu Nguyễn Ngọc Bảo B, sinh ngày 09/12/2015, hiện nay đang ở với chị và anh T. Ly hôn, chị H đề nghị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung, không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, tài sản riêng, khoản vay, cho vay và công sức đóng góp: Chị H không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Bị đơn là anh Nguyễn Ngọc T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt không có lý do nên không có lời khai.

Ý kiến của cháu Nguyễn Ngọc Bảo A: Trong trường hợp bố mẹ cháu ly hôn, cháu A xin được ở với mẹ.

Ý kiến của Viện kiểm sát: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H. Về con chung đề nghị giao cho chị H trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng công khai tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về thủ tục tố tụng: Quan hệ giữa chị H và anh T là vợ chồng, chị H có đơn đề nghị ly hôn, do vậy xác định quan hệ tranh chấp là “Hôn nhân và gia đình” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc. Anh Nguyễn Ngọc T là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt khôn có lý do nên Tòa án xét xử vụ án vắng mặt anh T theo thủ tục chung.

. Về tình cảm: Chị H và anh T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Thời gian đầu, anh chị chung sống hạnh phúc về sau phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân theo chị H là do anh T không chịu làm ăn để chăm lo cuộc sống chung của vợ chồng mà thường xuyên chơi lô đề, cờ bạc dẫn đến nợ nần, ngoài ra anh T còn nghiện ma túy. Chị H xác định không còn tình cảm với anh T nên đề nghị được ly hôn. Xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa chị H và anh T đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài. Do vậy, cần chấp yêu cầu của chị H xin ly hôn anh T là có căn cứ.

. Về con chung: Chị H và anh T có 02 con chung là cháu Nguyễn Ngọc Bảo A, sinh ngày 17/6/2009 và cháu Nguyễn Ngọc Bảo B, sinh ngày 09/12/2015, hiện nay đang ở với chị và anh T. Ly hôn, chị H đề nghị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung, không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Xét thấy, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chưa thành niên sau ly hôn là quyền và nghĩa vụ của cha mẹ. Tuy nhiên, do anh T là người nghiện ma túy không có nghề nghiệp gì nên không có thu nhập, do vậy, để bảo đảm quyền lợi ích chính đáng của cháu Nguyễn Ngọc Bảo A và cháu Nguyễn Ngọc Bảo B, nên cần giao cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung là có căn cứ và phù hợp với nguyện vọng của cháu A. Do chị H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.

. Về tài sản, các khoản vay, cho vay và công sức đóng góp: Chị H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 56; Điều 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Tuyên xử:

1/ Cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Ngọc T.

2/ Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị H trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Ngọc Bảo A, sinh ngày 17/6/2009 và cháu Nguyễn Ngọc Bảo B, sinh ngày 09/12/2015. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.

3/ Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai nộp tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2017/0000405 ngày 04 tháng 7 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Lạc.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án, thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo, thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc niêm yết./.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.”

Cỡ chữ