vanban.org

Bản án 36/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1. Về hôn nhân: Xử cho chị Nuyễn Thị N được ly hôn anh Nguyễn Nhất L.

2.Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 04/12/2011 cho chị Nuyễn Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Nguyễn Nhất L và dành quyền khởi kiện về việc chăm sóc, cấp dưỡng cho các bên đương sự bằng vụ kiện dân sự khác khi anh L về và các bên có … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án chị Nguyễn Thị N xin ly hôn anh Nguyễn Nhất L"
  • Tòa quyết gì? 1. Về hôn nhân: Xử cho chị Nuyễn Thị N được ly hôn anh Nguyễn Nhất L.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật HN - GĐ
TAND HUYỆN YÊN ĐỊNH
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 29 - 3 - 2018
V/v “Tranh chấp HN- GĐ”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUỴÊN YÊN ĐỊNH – TỈNH THANH HÓA:

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Kỳ Anh

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trịnh Ngọc Thanh

2. Bà Hoàng Thị Thu

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa – Thư ký Tòa án, TAND huyện Yên Định, Thanh Hóa.

Trong ngày 29/3/2018, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án: “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình” thụ lý số 21/2018/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 2 năm 2018, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 12/3/2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, Sinh năm: 1990.

Trú tại: Thôn Chẩm Khê, xã Yên Thọ, Như Thanh, Thanh Hóa.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Nhất L, Sinh năm: 1984.

ĐKHKTT: Phố Kiểu, Yên Trường, Yên Định, Thanh Hóa.

Tại phiên toà có mặt có mặt chị N, vắng mặt anh L (Anh L đã bị tuyên bố mất tích).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Trong đơn khởi kiện ngày 26/02/2018 cũng như tại bản tự khai ngày 28/02/2018, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị N trình bày: chị và anh Nguyễn Nhất L kết hôn với nhau ngày 22/12/2011 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Yên Thọ, Như Thanh, Thanh Hóa. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc được 05 tháng thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thẫn do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, hai bên gia đình đã khuyên bảo hòa giải nhưng vợ chồng vẫn không hàn gắn được tình cảm vợ chồng và anh L đã bỏ nhà đi từ năm 2012. Vì vậy chị N đã làm đơn đề nghị Tòa án tuyên bố anh L mất tích và đã được Tòa án nhân dân huyện Yên Định tuyên bố anh L mất tích ngày 26/9/2017. Nay chị N đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh L.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung, cháu tên là Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 04/12/2011. Hiện nay cháu Nguyễn Ngọc H đang ở cùng chị N. Chị N có nguyện vọng được tiếp tục trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Nguyễn Ngọc H.

Về tài sản chung: Tài sản chung vợ chồng không có gì nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Do anh L là người đã bị tuyên bố mất tích nên không làm việc được với anh L và không có lời khai của anh L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Anh Nguyễn Nhất L có nơi cư trú cuối cùng trước khi bị tuyên bố mất tích ở Phố Kiểu, Yên Trường, Yên Định, Thanh Hóa nên việc chị Nguyễn Thị N yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Yên Định giải quyết việc ly hôn là đúng với quy định tại Khoản 1 Điều 28; Điều 37 và Điều 39 BLTTDS.

Do anh Nguyễn Nhất L là người bị tuyên bố mất tích nên không thể tiến hành việc hòa giải giữa chị N và anh L được, đây là trường hợp không thể tiến hành phiên hòa giải theo quy định tại Khoản 2 Điều 207 BLTTDS.

Ngày 29/3/2018, Tòa án nhân dân huyện Yên Định tiến hành mở phiên tòa giải quyết việc ly hôn nhưng do anh Nguyễn Nhất L là người bị tuyên bố mất tích nên không có mặt tại phiên tòa. Vì vậy cần áp dụng Điều 228 BLTTDS để xét xử vắng mặt anh L là phù hợp với quy định của pháp luật.

[ 2] Về nội dung:

Về hôn nhân: Chị Nuyễn Thị N và anh Nguyễn Nhất L kết hôn với nhau ngày 22/12/2011, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Yên Thọ, Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa. Do đó đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc được khoảng 5 tháng thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung nên thường xuyên sảy ra mâu thuẫn, khi mâu thuẫn sảy ra đã được hai bên gia đình và các tổ chức đoàn thể hòa giải nhưng mâu thuẫn mỗi ngày một trầm trọng và đến năm 2012 anh L bỏ nhà đi đâu không có tin tức.

Sau khi anh L bỏ nhà đi, chị N đã tìm kiếm nhiều nơi nhưng không có tin tức gì của anh L, vì vậy chị N đã làm đơn đề nghị Tòa án tuyên bố anh L mất tích.

Tại quyết định giải quyết việc dân sự số: 15/2017/QĐ-VDS ngày 26 tháng 9 năm 2017 Tòa án nhân dân huyện Yên Định đã tuyên bố anh Nguyễn Nhất L mất tích.

Do anh L đã bị tuyên bố mất tích, chị N xét thấy không còn tình cảm gì với anh L và không thể chờ đợi anh L thêm được nữa nên chị có quyền làm đơn xin ly hôn với anh L. Tại phiên tòa hôm nay, chị N vẫn giữ nguyên quan điểm của mình và đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh L.

Xét yêu cầu của chị N về việc ly hôn thấy rằng: Do anh L bỏ nhà đi đã lâu không có tin tức và đã bị Tòa án tuyên bố mất tích, do đó thấy rằng tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy cần áp dụng điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị N được ly hôn anh L là phù hợp.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung, cháu tên là Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 04/12/2011. Hiện nay cháu Nguyễn Ngọc H đang ở cùng chị N. Chị N có nguyện vọng được tiếp tục trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Nguyễn Ngọc H vì anh L đã bị tuyên bố mất tích.

Xét nguyện vọng của chị N về việc nuôi con chung thấy rằng: Anh L là người bị tuyên bố mất tích, cháu Nguyễn Ngọc H lâu nay đang được chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Vì vậy cần giao cháu Nguyễn Ngọc H cho chị N tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là đảm bảo quyền lợi của cháu và phù hợp với quy định của pháp luật.

Do anh L đã mất tích và chị Nguyệt không có yêu cầu gì về việc cấp dưỡng nuôi con chung nên chưa xem xét đến việc cấp dưỡng nuôi con chung.

Dành quyền khởi kiện về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung cho các bên đương sự bằng vụ kiện dân sự khác khi anh L trở về và có căn cứ yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung: Chị N không yêu cầu tòa án giải quyết, trong khi đó anh L đã mất tích nên miễn xét. Dành quyền khởi kiện bằng vụ kiện dân sự khác về tài sản chung cho hai bên đương sự.

[ 3] Về án phí: Chị N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào điều 56, điều 81, 82, 83 của Luật HN - GĐ; Điều 228 BLTTDS.

1.1. Về hôn nhân: Xử cho chị Nuyễn Thị N được ly hôn anh Nguyễn Nhất L.

1.2.Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 04/12/2011 cho chị Nuyễn Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Nguyễn Nhất L và dành quyền khởi kiện về việc chăm sóc, cấp dưỡng cho các bên đương sự bằng vụ kiện dân sự khác khi anh L về và các bên có yêu cầu.

Anh Nguyễn Nhất L được quyền đi lại chăm sóc con chung, không ai có quyền ngăn cấm.

1.3.Về tài sản chung: Dành quyền khởi kiện cho các đương sự bằng vụ kiện dân sự khác khi có yêu cầu.

2. Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UB Thường vụ Quốc Hội.

Chị Nguyễn Thị N phải nộp 300.000đ án phí HNGĐST nhưng được trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng án phí tại phiếu thu số AA/2013/02214ngày 26/02/2018 của Chi cục THADS Yên Định (Chị N đã nộp đủ án phí).

3. Quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ