- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lục Thị S - Ôn Văn Ch"
- Tòa quyết gì? Cho chị Lục Thị S được ly hôn anh Ôn Văn Ch
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 36/2018/HNGĐ-ST Ngày 16 - 10 - 2018 V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Chiên và bà Nguyễn Thị Nhẫn
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Song Lưu, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền, Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 80/2018/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 5 năm 2018 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 9 năm 2018 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lục Thị S, sinh năm 1995; địa chỉ: Thôn P, xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, có mặt.
Bị đơn: Anh Ôn Văn Ch, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn X, xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Lục Thị S trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Ôn Văn Ch kết hôn ngày 07/12/2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, sau khi kết hôn anh chị ra ở riêng. Quá trình chung sống ban đầu hòa thuận hạnh phúc đến tháng 3/2016 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm dẫn đến vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, xô sát, mâu thuẫn của anh chị nhiều lần được gia đình và địa phương hòa giải nhưng không thay đổi. Từ tháng 9/2016 chị bỏ về nhà bố mẹ đẻ chị ở, anh chị sống ly thân từ đó đến nay không ai quan tâm hay có trách nhiệm gì đến nhau. Chị xác định tình cảm không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Ch.
Về quan hệ giao nuôi con chung: Chị xác định vợ chồng có 01 con chung là Ôn Phương T, sinh ngày 12/9/2016, hiện đang ở cùng chị. Ly hôn, chị đề nghị được nuôi dưỡng cháu T, yêu cầu anh Ch phải cấp dưỡng nuôi con là 1.000.000đ/tháng.
Về quan hệ tài sản: Không đề nghị Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Ôn Văn Ch: Tòa án đã làm các thủ tục triệu tập hợp lệ mà anh Ch vẫn vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn chị Lục Thị S xác định do anh Ch không có nghề nghiệp ổn định nên chị không yêu cầu anh Ch cấp dưỡng nuôi con.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn không thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho chị Lục Thị S ly hôn anh Ôn Văn Ch, giao cho chị S tiếp tục nuôi dưỡng cháu Ôn Phương T, anh Ch không phải cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng: Chị Lục Thị S có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Ôn Văn Ch; anh Ch có nơi cư trú tại huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Do vậy, xác định đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ đối với anh Ôn Văn Ch, mặc dù anh Ch có mặt tại địa phương và biết việc chị S có đơn xin ly hôn nhưng anh Ch cố tình gây khó khăn, không đến Tòa án để làm việc. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiếp tục đưa vụ án ra xét xử.
. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lục Thị S và anh Ôn Văn Ch kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, đây là cuộc hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, do bất đồng quan điểm dẫn đến vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, xô sát, từ tháng 9/2016 anh chị sống ly thân nhau. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập nhiều lần, mặc dù anh Ch biết việc chị S có đơn xin ly hôn nhưng không hợp tác và không đến Tòa án để làm việc. Qua xác minh tại địa phương cũng như gia đình anh Ch, thể hiện: Chị S và anh Ch thường xuyên mâu thuẫn, xô sát, chính quyền địa phương đã tiến hành hòa giải nhưng không thay đổi, từ tháng 9/2016 chị S bỏ về nhà bố mẹ đẻ chị ở. Do vậy, hôn nhân của chị S và anh Ch đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của chị S, cho chị S ly hôn anh Ch là phù hợp.
. Về quan hệ giao nuôi con chung: Chị S xác định vợ chồng có 01 con chung là Ôn Phương T, sinh ngày 12/9/2016, hiện đang ở cùng chị. Ly hôn, chị S đề nghị được nuôi dưỡng cháu T, không yêu cầu anh Ch phải cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy, hiện cháu T chưa đủ 36 tháng tuổi và đang ở cùng chị S, cháu T phát triển tâm sinh lý bình thường, chị S đủ điều kiện để nuôi dưỡng cháu phát triển về mọi mặt nên cần giao cho chị S được tiếp tục nuôi dưỡng cháu T là phù hợp.
. Về quan hệ tài sản: Chị S không yêu cầu Tòa án giải quyết, đồng thời quá trình giải quyết vụ án anh Ch vắng mặt nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này mà sẽ xem xét giải quyết bằng một vụ án khác khi có yêu cầu của đương sự.
. Về án phí: Chị Lục Thị S phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, xử:
1. Cho chị Lục Thị S được ly hôn anh Ôn Văn Ch
2. Giao cho chị Lục Thị S tiếp tục nuôi dưỡng cháu Ôn Phương T, sinh ngày 12/9/2016, anh Ôn Văn Ch không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Không ai được cản trở việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung.
Các đương sự có quyền yêu cầu về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn và yêu cầu về cấp dưỡng.
3. Chị Lục Thị S phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại Biên lai thu số: 0003090 ngày 11 tháng 5 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Đảo, chị S đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
4. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Tam Đảo; - Chi cục THADS huyện Tam Đảo; - UBND xã Đ, huyện T; - Các đương sự; - Lưu HSVA, VP. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Nguyễn Thị Thu |