vanban.org

Bản án 36/2018/DSPT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 12/03/2018 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 12/03/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn c khoản 2 Điều 308; Điều 309 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.

Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà Phạm Thị T ông Lê Văn T1 bà Nguyễn Thị B bà Đ Thị Ngọc D ông Nguyễn Thiên Th ông Nguyễn Văn Th1 bà Nguyễn Thị M T3, anh Nguyễn Duy T2, ông Nguyễn Đ c Tr và chị Lê Thị Thu Th2;Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long. Sửa b… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp quyền lối đi giữa bà Phạm Thị T với ông Lê Văn T1"
  • Tòa quyết gì? Căn c khoản 2 Điều 308; Điều 309 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.
  • Căn cứ chính? Điều 171 Luật Đất đai; Điều 245 Bộ luật Dân sự; Điều 246 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:37/2018/DSPT
Ngày: 12/3/2018
V/v: “Tranh chấp lối đi
qua bất động sản liền kề ”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Dung .

Các Thẩm phán:

Ông Vương Minh Tâm

Ông Nguyễn Văn Trường.

-Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hồng Sương -Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa : Ông Nguyễn Văn Bé Tư - Kiểm sát viên .

Ngày 12 tháng 03 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 79/2017/TLPT – DS ngày 21/6/2017 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất ”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 23/2017/DS-ST ngày 18 tháng 04 năm 2017 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 44/2018/QĐPT-DS, ngày 13 tháng 02 năm 2018, giữa các đương sự:

-Nguyeân ñôn: Bà Phạm Thị T, sinh naêm 1957 ( có mặt); Ñòa chæ: số A t B ấp Q x T thành phố V tỉnh Vĩnh Long.

-Bò ñôn:

1.Ông Lê Văn T1 (thường gọi khác: Lê Thanh T1), sinh naêm 1950 ( có mặt); Ñòa chæ: số A ấp Q x T thành phố V tỉnh Vĩnh Long.

2. Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1947(có mặt); Địa chỉ: số M ấp Q x T thành phố V tỉnh Vĩnh Long.

-N i c qu n i, n h a v iên quan:

1. Anh Nguyễn Duy T2 sinh năm 1984( vắng mặt) ;Ñòa chæ: số B ấp Q x T thành phố V tỉnh Vĩnh Long.

- Ng i đại diện h p pháp của anh T2 là bà Tô Thị B sinh năm 1957(văn bản ủy quyền ngày 18/01/2017 có mặt); Địa chỉ: ấp A x B huyện L tỉnh Vĩnh Long

2. Bà Đ Thị Ngọc D sinh năm 1971( có mặt); Địa chỉ: số E ấp Q x T thành phố V tỉnh Vĩnh Long.

3. Ông Nguyễn Thiên Th sinh năm 1973(có mặt); Địa chỉ: số D ấp Q x T thành phố V tỉnh Vĩnh Long.

4. Ông Nguyễn Văn Th1 sinh năm 1974 (có mặt); Địa chỉ: số A ấp T Q x Trường An thành phố V tỉnh Vĩnh Long .

5. Ông Nguyễn Đ c Tr sinh năm 1969(có mặt); Địa chỉ: số C ấp Q x T thành phố V tỉnh Vĩnh Long .

6. Bà Nguyễn Thị M T3 sinh năm 1971(có mặt); Địa chỉ: số B, Phạm Hùng phường H thành phố V tỉnh Vĩnh Long.

7. Chị Lê Thị Thu Th2 sinh năm 1983(có mặt); Địa chỉ: ấp Q x T thành phố V tỉnh Vĩnh Long.

8. Anh V Thành D, sinh năm 1980(vắng mặt);Địa chỉ: Số C phường N thành phố V tỉnh Vĩnh Long .

9.Ủy ban nhân dân thành phố V tỉnh Vĩnh Long; Địa chỉ: số B đường 30/4 phường M thành phố V tỉnh Vĩnh Long (có văn bản xin vắng mặt).

- N i m ch n : Ông Nguyễn Văn A sinh năm 1942; Địa chỉ: số S ấp Q x T thành phố V tỉnh Vĩnh Long ( vắng mặt).

- N i kháng cáo: Bà Phạm Thị T là nguyên đơn; ông Lê Văn T1, bà Nguyễn Thị B là bị đơn; anh Nguyễn Duy T3, bà Đ Thị Ngọc D, ông Nguyễn Thiện Th, ông Nguyễn Thiện Th1, ông Nguyễn Đ c Tr, bà Nguyễn Thị M T4, chị Lê Thị Thu Th2 là người có quyền l i nghĩa vụ liên quan.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện v các i trình khai tron quá trình iải qu ết v án n u ên đơn b Phạm Thị T trình bày:

Bà Phạm Thị T đư c Ủy ban nhân dân thị x V (nay là thành phố V ) cấp giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất thửa số 3 diện tích 1.090 1m2 đất vườn tọa lạc tại ấp Q x T thành phố V tỉnh Vĩnh Long. Nguồn gốc đất do cha của bà T là ông Phạm Văn N (đ chết) nhận chuyển như ng của ông Nguyễn Văn A. Phần đất bà T có vị trí đầu ngoài giáp lộ đầu trong giáp đất bà B, ông T1. Để đi ra đường chính thì ông T1, bà B phải đi qua phần đất của bà T. Trong quá trình sử dụng đất bà T có cho ông T1 bà B sử dụng đất của bà T có chiều rộng khoảng 1m chiều dài hết đất nằm cặp với lối đi có sẳn có chiều rộng khoảng 0 5m thuộc thửa số 17 265 và 374 của ông Lê Văn T1 và ông Nguyễn Cao C.

Năm 2010 ông T1 bà B tự ý làm đường đi lấn chiếm đất của bà T. Do vậy bà T khởi kiện yêu cầu ông T1 bà B trả lại phần đất lối đi theo đo đạc thực tế là 50,8m2 .

Tại các i khai tron quá trình iải qu ết v án bị đơn ôn Lê Văn T1 trình bày: Ông T1 đư c Ủy ban nhân dân thành phố V cấp quyền sử dụng đất diện tích 998m2 thuộc thửa 6. Nguồn gốc đất do nhận chuyển như ng của ông Phạm Văn T3 vào năm 1995. Khi nhận chuyển như ng đất đ có lối đi rộng khoảng một mét từ lộ đá vào đến nhà bà B. Ông Nguyễn Cao C có phần đất đầu ngoài giáp lộ đá đầu trong giáp đất ông T1 thống nhất chừa chiều rộng 0 5m để làm lối đi rộng 1 5m. Cha bà T là ông Năm S có trồng hàng rào dâm bụt cặp lối đi coi như ranh giới với đường đi.Trong quá trình sử dụng lối đi ông T1, bà B nhiều lần nâng cấp lối đi như đ đá ghép tấm đal đến năm 2010 bà T ngăn cản không cho làm lối đi. Nay ông T1 không đồng ý trả phần đất lối đi có diện tích 50,8 m2 theo yêu cầu bà T.

Tại các i khai tron quá trình iải qu ết v án bị đơn b N u ễn Thị B trình bày: Bà B đư c Ủy ban nhân dân thị x V ( nay là thành phố V) cấp quyền sử dụng đất diện tích 1.230 6m2 thuộc thửa 337 Nguồn gốc đất do bà B nhận chuyển như ng của ông Nguyễn Văn A vào năm 1992. Khi bà B nhận chuyển như ng đất thì ông A có chừa lối đi rộng khoảng một mét từ lộ đá vào đến nhà bà B.Trong quá trình sử dụng lối đi bà B có xây đắp tôn sửa. Năm 1997 gia đình bà T có trồng hàng rào dâm bụt và rào lưới B40. Năm 2012 bà T làm hàng rào chỉ chừa lối đi 0,5m. Nay bà B không đồng ý trả phần đất lối đi có diện tích 50,8m2 theo yêu cầu bà T.

N i c qu n i v n h a v iên quan anh Nguyễn Duy T2 do bà Tô Thị B1 đại diện trình bày: Anh T2 đang quản lý phần đất diện tích 91 7m2 thuộc thửa 286 có nguồn gốc nhận chuyển như ng của bà Nguyễn Thị B ngày 16/7/2007, có cất nhà sinh sống và sử dụng lối đi chung với bà B cho đến nay. Anh T2 yêu cầu giữ nguyên hiện trạng trạng lối đi không đồng ý bồi thường thiệt hại về lối đi.

N i c qu n i v n h a v iên quan bà Đ Thị Ngọc D trình bày: Bà D đang quản lý phần đất diện tích 100,7m2 thuộc thửa 339 có nguồn gốc do mẹ chồng là bà Nguyễn Thị B cho vào năm 2007 có cất nhà sinh sống trên đất và sử dụng lối đi chung với bà B cho đến nay. Bà D yêu cầu giữ nguyên hiện trạng trạng lối đi không đồng ý bồi thường thiệt hại về lối đi.

N i c qu n i v n h a v iên quan ông Nguyễn Thiên Th trình bày: Ông Th đang quản lý phần đất diện tích khoảng 100 2m2 không nhớ số thửa có nguồn gốc do mẹ là bà Nguyễn Thị B cho vào năm 2001 có cất nhà sinh sống và sử dụng lối đi chung với bà B cho đến nay. Ông Th yêu cầu giữ nguyên hiện trạng trạng lối đi không đồng ý bồi thường thiệt hại về lối đi.

N i c qu n i v n h a v iên quan ông Nguyễn Văn Th2 trình bày: Ông Th2 đang quản lý phần đất diện tích 720,8m2 thuộc thửa 113 có nguồn gốc nhận chuyển như ng của bà Nguyễn Thị B vào năm 1998 có cất nhà sinh sống và sử dụng lối đi chung với bà B cho đến nay. Ông Th2 yêu cầu giữ nguyên hiện trạng trạng lối đi không đồng ý bồi thường thiệt hại về lối đi.

N i c qu n i v n h a v iên quan ông Nguyễn Đ c Tr trình bày: Ông Tr đang quản lý phần đất diện tích 101 7m2 thuộc thửa 322 có nguồn gốc nhận chuyển như ng của bà Nguyễn Thị B ngày 23/6/2008 có cất nhà sinh sống và sử dụng lối đi chung với bà B cho đến nay. Ông Tr yêu cầu giữ nguyên hiện trạng trạng lối đi không đồng ý bồi thường thiệt hại về lối đi.

N i c qu n i v n h a v iên quan bà Nguyễn Thị M T3 trình bày: Bà T3 đang quản lý phần đất diện tích 341,2m2 thuộc thửa 331 có nguồn gốc nhận chuyển như ng của bà Nguyễn Thị B có cất nhà sinh sống và sử dụng lối đi chung với bà B cho đến nay. Bà Tiên yêu cầu giữ nguyên hiện trạng trạng lối đi không đồng ý bồi thường thiệt hại về lối đi.

i v i chị Lê Thị Thu Th3: đ đư c Tòa án cấp sơ thẩm triệu tập h p lệ hai lần vào ngày 28/10/2015(bút lục 63) và ngày 07/6/2016 (bút lục 18) để tham gia phiên hòa giải nhưng vắng mặt không lý do không có ý kiến bằng văn bản gởi cho Tòa án ngày 17/4/2017 có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm.

N i c qu n i v n h a v iên quan anh V Thành D có ý kiến tại biên bản hòa giải ngày 11/5/2015 như sau : Anh D có chuyển như ng đất của bà Bính mục đích để có ch ở khi mua đất đ có lối đi yêu cầu giữ nguyên hiện trạng trạng lối đi không đồng ý bồi thường thiệt hại về lối đi. Anh D đ đư c Tòa án cấp sơ thẩm triệu tập h p lệ hai lần nhưng vắng mặt không lý do.

Ủ ban nhân dân th nh ph V không có có ý kiến gì trong vụ án này .

Tại bản án dân sự sơ thẩm s : 23/2017/DS-ST ngày 18 tháng 04 năm 2017 của Tòa án nhân dân th nh ph V, tỉnh V nh Lon đã qu ết định:

Áp dụng khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 156 khoản 2 Điều 158; khoản 1 Điều 162; khoản 1 Điều 166; điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng khoản 1 Điều 203 Luật đất đai và khoản 2 Điều 27 Pháp lệnh về án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu của bà Phạm Thị T (do ông Nguyễn Tấn Đ đại diện theo ủy quyền). Giữ nguyên hiện trạng ban đầu đối với phần đất (phần lối đi) theo các cột mốc 1 2 3 4 5 6 7 và 1 (theo Trích lục bản đồ địa chính) ngày 17/3/2017 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đai thành phố V.

Buộc các ông (bà) Lê Văn T (thường gọi Lê Thanh T) Nguyễn Thị B Nguyễn Duy T2 Đ Thị Ngọc D Nguyễn Thiên Th Nguyễn Văn Th1 Nguyễn Đ c Tr Nguyễn Thị M T3 và Lê Thị Thu Th2 có trách nhiệm liên đới bồi hoàn cho bà Phạm Thị T số tiền 8.128.000đ (tám triệu một trăm hai mươi tám ngàn đồng).

Buộc các ông (bà) Lê Văn T1 (thường gọi Lê Thanh T1) Nguyễn Thị B Nguyễn Duy T2 Đ Thị Ngọc D Nguyễn Thiên Th Nguyễn Văn Th1 Nguyễn Đ c Tr Nguyễn Thị M T3 và Lê Thị Thu Th2 m i người phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Buộc bà Phạm Thị T phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm trừ vào số tiền tạm ng án phí đ nộp 318.000đ (ba trăm mười tám ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 023176 ngày 05/5/2015 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố V số tiền tạm ng án phí còn thừa là 118.000đ (một trăm mười tám ngàn đồng) đư c hoàn trả lại cho bà T.

Buộc các ông (bà) Lê Văn T1 (thường gọi Lê Thanh T1), Nguyễn Thị B Nguyễn Duy T2 Đ Thị Ngọc D Nguyễn Thiên Th Nguyễn Văn Th1 Nguyễn Đ c Tr Nguyễn Thị M T3 và Lê Thị Thu Th2 liên đới chịu tiền chi phí thẩm định tại ch là 2.428.000đ (hai triệu bốn trăm hai mươi tám ngàn đồng) số tiền này bà T đ nộp đủ và chi cho việc xem xét thẩm định tại ch xong nên buộc các đương sự có tên vừa nêu trên liên đới nộp lại số tiền 2.428.000đ (hai triệu bốn trăm hai mươi tám ngàn đồng) để trả lại cho bà T.

Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định quyền kháng cáo và nghĩa vụ thi hành án.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 27/4/2017 nguyên đơn Phạm Thị T kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung: Không đồng ý việc buộc bà T dành phần đất lối đi cho ông Lê Văn T1 bà Nguyễn Thị B anh Nguyễn Duy T2 bà Đ Thị Ngọc D ông Nguyễn Thiên Th ông Nguyễn Văn Th1 ông Nguyễn Đ c Tr bà Nguyễn Thị M T3 và chị Lê Thị Thu Th2. Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết không dành phần đất 50 8m2 làm lối đi. Nếu buộc dành lối đi thì phải bồi thường giá trị đất theo giá thị trường.

Ngày 05/5/2017 bị đơn ông Lê Văn T1, bà N u ễn Thị B v nhữn n i c qu n i n h a v iên quan b

Thị N ọc D, ôn N u ễn Thiên Th, ôn N u ễn Văn Th1, bà Nguyễn Thị M T3, anh N u ễn Du T1 ,ôn N u ễn c Tr v chị Lê Thị Thu Th2 kháng cáo cùng có nội dung: Tòa án nhân dân thành phố V buộc ông T1, bà B, bà D, ông Th, ông Th1, bà T3, anh T2, ông Tr và chị Th2 bồi hoàn cho bà T số tiền 8.128.000đ nhưng về phần đất lại tuyên giữ nguyên hiện trạng không giao cho ai. Việc ông A không giao đủ đất cho bà T thì tự họ giải quyết. Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm công nhận phần đất lối đi cho ông T1, bà B, bà D, ông Th, ông Th1, bà T3, anh T2, ông Tr và chị Th2 đư c quyền quản lý và sử dụng không bồi hoàn giá trị cho bà T, không nộp tiền xem xét thẩm định và án phí.

Ngày 17/5/2017 Viện tr ởn Viện kiểm sát nhân dân tỉnh V nh Lon kháng nghị phúc thẩm bản án dân sự số 23/2017/DS-ST ngày 18 tháng 07 năm 2017 của Tòa án nhân dân thành phố V tỉnh Vĩnh Long có nội dung:

1. Không viện dẫn đầy đủ điều luật áp dụng làm căn c giải quyết tranh chấp quan hệ tranh chấp là lối đi nhưng không áp dụng Điều 275 Bộ luật dân sự 2005 Điều 254 Bộ luật dân sự 2015 Điều 171 Luật đất đai 2013 để giải quyết.

2.Không tuyên cho các đương sự đư c đăng ký quyền sử dụng phần đất đ bồi thường. Bản án công nhận phần đất tranh chấp lối đi cho ông T1, bà B, bà D, ông Th, ông Th1, bà T3, anh T2, ông T1 và chị Th2 đồng thời buộc trả giá trị quyền sử dụng đất cho bà T 8.128.000đ nhưng không tuyên cho các đương sự đư c quyền đăng ký quyền sử dụng đất theo qui định tại khoản 2 Điều 171 Luật đất đai 2013 là không đảm bảo quyền l i của người đư c công nhận quyền sử dụng đất.

3. Không tuyên nghĩa vụ chậm thi hành án Quyết định bản án sơ thẩm buộc các đương sự có tranh chấp liên đới bồi hoàn cho bà T số tiền 8.128.000đ nhưng không tuyên nghĩa vụ chậm thi hành án là không đúng qui định tại Điều 357 Bộ luật dân sự 2015.

4. Áp dụng án phí không đúng: Bản án áp dụng khoản 2 Điều 27 Pháp lệnh về án phí lệ phí Tòa án buộc các đương sự liên đới bồi hoàn cho bà T số tiền 8.128.000đ nhưng lại buộc các đương sự phải chịu 200.000đ án phí dân sự sơ thẩm là không đúng qui định tại điểm b mục 2 phần I danh mục m c án phí lệ phí Tòa án lẽ ra các đương sự này chỉ phải liên đới nộp án phí dân sự sơ thẩm 5% = 406.400đ. Do vậy Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long kháng nghị bản án dân sự sơ thẩm của của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long xét xử vụ án theo hướng sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm như đ nêu trên.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Người kháng cáo bà T thay đ i yêu cầu kháng cáo đồng ý cho ông T1, bà B, bà D, ông Th, ông Th1, bà T3, anh T2, ông Tr và chị Th2 đư c quyền sử dụng h p pháp lối đi theo kết quả khảo sát là 49 7m2 nhưng phải trả giá trị đất theo giá thị trường là 2.280.000đ/ m2.

- Ông T1, bà B, bà D, ông Th, ông Th2, bà T3, anh T2 ông Tr và chị Th2 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo không đồng ý yêu cầu kháng cáo của bà T.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long giữ nguyên yêu cầu kháng nghị phúc thẩm bản án dân sự số 23/2017/DS-ST ngày 18 tháng 07 năm 2017 của Tòa án nhân dân thành phố V.

- Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long công bố ch ng c trong giai đoạn xét xử phúc thẩm bao gồm: Kết quả đo đạc của Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Vĩnh Long ngày 23/01/2018; Biên bản định giá tài sản ngày 23/10/2017 và Ch ng thư thẩm định giá của Công ty trách nhiệm thẩm định giá Tây Nam ngày 03/11/2017.

Quan điểm của kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh V nh Lon nh sau :

-Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm là phù h p pháp luật.

-Về nội dung: Phần đất tranh chấp lối đi của bà T do ông T1, bà B, bà D, ông Th, ông Th2, bà T3, anh T2, ông Tr và chị Th2 sử dụng làm lối đi ngoài lối đi này thì không còn lối đi khác nên công nhận cho họ một lối đi như hiện trạng là có căn c .Tuy nhiên trên lối đi các hộ đ lấn sang phần đất của bà T nên ông T1 bà Bính bà D ông Th, ông Th2, bà T3, anh T2, ông Tr và chị Th2 yêu cầu tiếp tục sử dụng và đồng ý trả giá trị theo giá nhà nước 160.000đ/ 1m2, bà T yêu cầu trả giá trị 2.280.000đ/ 1m2 để bảo đảm quyền l i cho các đương sự cần lấy trung bình cộng để giải quyết và buộc ông Tùng bà Bính bà Dịu ông Th, ông Th1, bà T3, anh T2, ông Tr và chị Th2 trả giá trị đất cho nguyên đơn là có căn c . Đối với Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long là có căn c . Đề nghị Hội đồng xét xử căn c khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long; chấp nhận một phần kháng cáo của bà T, ông T1, bà B, bà D, ông Th, ông Th1, bà T3, anh T1, ông Tr và chị Th2, sửa án sơ thẩm, án phí sơ thẩm đư c tính lại các đương sự không phải chịu án phí phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn c v o t i iệu, ch n c đã đ c xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh t n tại phiên tòa, ý kiến của nhữn n i tham ia t t n v phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa; Hội đồn xét xử nhận định:

Ngaøy 05/05/2017 Toøa aùn nhaân daân thành phố V tỉnh Vĩnh Long nhaän ñôn khaùng caùo cuûa ông Tr và chị Th2 coøn trong haïn luaät ñònh laø khaùng caùo hôïp leä. Đối với kháng cáo của ông T1 bà B anh T2 bà D ông Th ông Th1 bà T3 là quá hạn. Tại quyết định số 10/2017QĐ- PT ngày 18 tháng 8 năm 2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long đ chấp nhận việc kháng cáo quá hạn của ông Lê Văn T1 bà Nguyễn Thị B, bà Đ Thị D, ông Nguyễn Thiện Th ông Nguyễn Văn Th1 bà Nguyễn Thị M T3 và anh Nguyễn Duy T2; Ngày 17/5/2017 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long kháng nghị phúc thẩm bản án dân sự còn trong hạn luật định nên vụ án đư c xem xét theo trình tự phúc thẩm qui định tại Điều 293 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bà T kháng cáo yêu cầu ông T1, bà Bính trả lại phần đất lấn chiếm có diện tích theo đo đạc thực tế là 49 7m2 thuộc thửa số 3 tọa lạc tại ấp Q x T thành phố Vĩnh Long tỉnh Vĩnh Long. Trường h p có nhu cầu sử dụng đất làm lối đi thì bà T đồng ý cho sử dụng làm lối đi nhưng phải trả giá trị đất theo giá thị trường là 2.280.000đ/1m2. Bà B, ông T1 không đồng ý trả đất mà cho rằng đất này là của ông A. Tại biên bản ghi lời khai ngày 11/12/2015 ông A trình bày: Năm 1991 ông A có chuyển như ng cho ông Phạm Văn N là cha của bà T 1.000m2 đất không có đo đạc chỉ thỏa thuận bằng miệng. Năm 1992 ông A chuyển như ng cho bà B hơn 2.800m2 có thỏa thuận với bà B sẽ chừa một lối đi ngang khoảng 1 3m nên bà B mới nhận chuyển như ng đất có làm giấy thoả thuận về lối đi với bà B.

Bà B và ông T1 cho rằng bà T tự ý kê khai đăng ký phần đất lối đi chung. Xét thấy tại biên bản xác định ranh giới móc giới thửa đất số 3 ngày 17/9/1997 diện tích 1.117 8m2 thể hiện các chủ giáp ranh là ông Đ Cao C, ông Phạm Văn T4 và ông Lê Văn T1 (Lê Thanh T1) có ký giáp ranh. Như vậy đất của bà T không giáp lối đi mà giáp với đất ông T1 ông C và bà T nên lối đi nằm trong giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất của bà T. Năm 2004 ông A khởi kiện bà T yêu cầu trả lại phần đất 117m2 trong t ng số diện tích 1.117 8m2 lý do ông A chỉ chuyển như ng cho ông N là cha của bà T 1.000m2. Tại bản án dân sự phúc thẩm số 341/2006/DSPT ngày 18/9/2006 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long đ quyết định không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông A. Ngày 06/11/2008 bà Tươi có đơn đăng ký biến động về quyền sử dụng đất do giao thông nông thôn nên diện tích đất thửa số 3 của bà T giảm còn 1.090 1m2 so với 1.117,8m2. Xét thấy nguồn gốc đất lối đi là của ông A chuyển như ng cho ông N sau đó ông N cho đất lại cho con gái là bà T nên bà T là chủ sử dụng h p pháp đất thửa đất số 3 diện tích 1.090 1m2.

Bà T đồng ý mở lối đi rộng 0 9m chiều dài hết đất có diện tích theo đo đạc thực tế là 49 7m2 thuộc tách thửa số 3 nằm cặp với lối đi có sẳn chiều rộng 0,6m. Để đi ra đường chính thì ông T1, bà B, anh T2 bà D ông Th ông Th1 ông Tr bà T3 và chị Th2 phải đi qua phần đất thửa số 3 của bà T và lối đi này đ hình thành từ lâu bà T đồng ý cho sử dụng lối đi nhưng phải trả giá trị đất theo giá thị trường nhưng các đương sự này kháng cáo yêu cầu đư c sử dụng lối đi không đồng ý trả giá trị đất.Theo qui định tại Điều 254 Bộ luật dân sự 2015 thì ông T1 bà B anh T2 bà D ông Th ông Th1 ông Tr bà T3 và chị Th2 đang sử dụng phần đất 49,7m2 của bà T làm lối đi phải đền bù thiệt hại cho bà T do việc mở lối đi.

Bà T xác định giá đất 2.280.000đ/m2; ông T1, bà B, anh T2, bà D, ông Th ông Th1 ông Tr bà T3 và chị Th2 xác định giá đất 160.000đ/ m2, các đương sự không thỏa thuận đư c về giá đất. Căn c Điều 17 Thông tư liên tịch 02/2014/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP-BTC ngày 28/3/2014 hướng dẫn định giá thẩm định giá tài sản thì Tòa án lấy m c trung bình cộng 160.000đ + 2.280.000đ =2.440.000đ/2= 1.220.000đ/m2 để làm căn c tính m c đền bù thiệt hại do việc mở lối đi. Bà T có nhu cầu sử dụng lối đi nên bà T tự chịu một phần thiệt hại về giá trị đất đư c tính như sau: 49 7m2 x 1.220.000đ = 60.634.000đ chia cho 10 người sử dụng lối đi là ông T1, bà B, anh T2, bà D, ông Th, ông Th1 ông Tr bà T3 chị Th2 và bà T m i người là 6.063.400đ người sử dụng đất lối đi đư c quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để đăng ký đất đai và đư c cấp giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất theo qui định tại Điều 95; 171 Luật đất đai năm 2013.

Xét yêu cầu kháng cáo ông T1 bà B anh T1 bà D ông Th ông Th1 ông Tr bà T3 chị Th2 yêu cầu đư c sử dụng lối đi có chiều ngang đầu trong giáp đất bà B 1,52m, đầu ngoài giáp lộ 1 28m nhưng bà T không đồng ý nên không có căn c để Hội đồng xét xử xem xét. Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long về không viện dẫn điều luật áp dụng là Điều 254 Bộ luật dân sự 2015; Điều 171 Luật đất đai không tuyên cho đương sự đư c quyền đăng ký phần đất đ bồi thường không tuyên nghĩa vụ chậm thi hành án và án phí là có căn c .Do vậy Hội đồng xét xử thống nhất sửa án sơ thẩm chấp nhận một phần kháng cáo của bà T ông T1, bà B, anh T2, bà D, ông Th, ông Th1, ông Tr, bà T3 và chị Th2 về việc bà T phải có nghĩa vụ dành phần đất có diện tích 49 7m2 cho ông T1, bà B, anh T2, bà D, ông Th, ông Th1, ông Tr bà T3 chị Th2 và bà T làm lối đi chung đồng thời có nghĩa vụ đền bù thiệt hại cho bà T m i người là 6.063.400đ.

Về chi phí khảo sát đo đạc định giá tài sản cấp sơ thẩm là 2.428.000 đồng cấp phúc thẩm là 3.772.000đ t ng cộng là 6.200.000đ/10 =620.000đ các đương sự phải chịu theo qui định tại Điều 161 và 165 Bộ luật tố tụng dân sự. Do bà T đ nộp tạm ng chi phí chi phí khảo sát đo đạc định giá tài sản cấp sơ thẩm và phúc thẩm nên buộc ông T1 bà B anh T2 bà D ông Th ông Th2 ông Tr bà T3 chị Th2 m i người phải nộp 620.000đ để hoàn trả lại cho bà T nhận; bà T tự nguyện nộp 620.000đ chi phí khảo sát đo đạc định giá tài sản.

Về án phí: Do sửa án sơ thẩm nên bà T, ông T1, bà B, anh T2, bà D, ông Th ông Th1 ông Tr bà T3 chị Th2 không phải chịu án phí phúc thẩm và án phí sơ thẩm đư c xác định lại: Ông T1, bà B, anh T2, bà D, ông Th, ông Th1, ông Tr bà T3 chị Th2 m i người phải nộp 6.063.400đ/ x5%= 303.000đ theo qui định tại khoản 2 Điều 27 Pháp lệnh về án phí lệ phí Tòa án.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị nên không phải xem xét.

Vì các trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn c khoản 2 Điều 308; Điều 309 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.

Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà Phạm Thị T ông Lê Văn T1 bà Nguyễn Thị B bà Đ Thị Ngọc D ông Nguyễn Thiên Th ông Nguyễn Văn Th1 bà Nguyễn Thị M T3, anh Nguyễn Duy T2, ông Nguyễn Đ c Tr và chị Lê Thị Thu Th2;Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long. Sửa bản án sơ thẩm số 23/2017/DS-ST ngày 18/07/2017 của Tòa án nhân dân thành phố V tỉnh Vĩnh Long.

Căn c Điều 147 148 161 165 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 245 246 254 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 95 171 Luật đất đai năm 2013; khoản 2 Điều 27 Pháp lệnh về án phí lệ phí Tòa án; khoản 2 Điều 29, Điều 48 Nghị quyết 326/2006/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về m c thu miễn giảm thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử :

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị T .

Bà Phạm Thị T, ông Lê Văn T1 bà Nguyễn Thị B bà Đ Thị Ngọc D ông Nguyễn Thiên Th ông Nguyễn Văn Th1 bà Nguyễn Thị M T3, anh Nguyễn Duy T2 ông Nguyễn Đ c Tr và chị Lê Thị Thu Th2 đư c quyền sử dụng h p pháp phần đất lối đi có diện tích 49,7m2 thuộc tách thửa số 3 tờ bản đồ số 13 tọa lạc tại ấp Q Hưng, xã T thành phố V tỉnh Vĩnh Long do bà Phạm Thị T đ ng tên giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất. Phần đất có vị trí gồm các mốc 1, 2, 3, 25, 24, 23, 9, 22, 21, 20, 19, 18, 1 theo trích đo bản đồ địa chính khu đất ngày 23/01/2018 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Vĩnh Long.

Bà Phạm Thị T, ông Lê Văn T1 bà Nguyễn Thị B bà Đ Thị Ngọc D ông Nguyễn Thiên Th ông Nguyễn Văn Th1 bà Nguyễn Thị M T3, anh Nguyễn Duy T2 ông Nguyễn Đ c Tr và chị Lê Thị Thu Th2 đư c quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền đăng ký đất đai để đư c cấp giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất theo qui định của pháp luật.

2. Buộc ông Lê Văn T1 bà Nguyễn Thị B bà Đ Thị Ngọc Di, ông Nguyễn Thiên Th ông Nguyễn Văn Th1 bà Nguyễn Thị M T3, anh Nguyễn Duy T1 ông Nguyễn Đ c Tr và chị Lê Thị Thu Th2 có trách nhiệm đền bù giá trị phần đất lối đi có diện tích 49 7m2 thuộc tách thửa 3 tờ bản đồ số 13 tọa lạc tại ấp Q, xã T 570.600đ (năm mươi bốn triệu năm trăm bảy mươi ngàn sáu trăm đồng); trong đó ông Lê Văn T1 phải trả cho bà Phạm Thị T là 6.063.400đ (sáu triệu không trăm sáu mươi ba ngàn bốn trăm đồng); bà Nguyễn Thị B phải trả cho bà Phạm Thị T là 6.063.400đ (sáu triệu không trăm sáu mươi ba ngàn bốn trăm đồng ); bà Đ Thị Ngọc D phải trả cho bà Phạm Thị T là 6.063.400đ (sáu triệu không trăm sáu mươi ba ngàn bốn trăm đồng ); ông Nguyễn Thiên Th phải trả cho bà Phạm Thị T là 6.063.400đ (sáu triệu không trăm sáu mươi ba ngàn bốn trăm đồng ); ông Nguyễn Thiện Th1 phải trả cho bà Phạm Thị T là 6.063.400đ ( sáu triệu không trăm sáu mươi ba ngàn bốn trăm đồng ); bà Nguyễn Thị M T3 phải trả cho bà Phạm Thị T là 6.063.400đ ( sáu triệu không trăm sáu mươi ba ngàn bốn trăm đồng), anh Nguyễn Duy T2 phải trả cho bà Phạm Thị T là 6.063.400đ (sáu triệu không trăm sáu mươi ba ngàn bốn trăm đồng ) ông Nguyễn Đ c Tr phải trả cho bà Phạm Thị T là 6.063.400đ ( sáu triệu không trăm sáu mươi ba ngàn bốn trăm đồng), chị Lê Thị Thu Th2 phải trả cho bà Phạm Thị Tươi là 6.063.400đ ( sáu triệu không trăm sáu mươi ba ngàn bốn trăm đồng ).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người đư c thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền phải trả cho người đư c thi hành án, thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền l i của số tiền còn phải thi hành án theo m c l i suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

3.Về chi phí khảo sát đo đạc và định giá tài sản:

- Bà Phạm Thị T phải nộp 620.000đ (sáu trăm hai mươi ngàn đồng) đư c khấu trừ vào số tiền nộp tạm ng. Bà T đ nộp đủ chi phí khảo sát đo đạc và định giá tài sản.

- Ông Lê Văn T1 phải nộp 620.000đ (sáu trăm hai mươi ngàn đồng) để hoàn trả lại cho bà Phạm Thị T nhận.

- Bà Nguyễn Thị B phải nộp 620.000đ ( sáu trăm hai mươi ngàn đồng) để hoàn trả lại cho bà Phạm Thị T nhận.

- Bà Đ Thị Ngọc D phải nộp 620.000đ ( sáu trăm hai mươi ngàn đồng) để hoàn trả lại cho bà Phạm Thị T nhận.

- Ông Nguyễn Thiên Th phải nộp 620.000đ ( sáu trăm hai mươi ngàn đồng) để hoàn trả lại cho bà Phạm Thị T nhận.

- Ông Nguyễn Thiện Th1 phải nộp 620.000đ ( sáu trăm hai mươi ngàn đồng) để hoàn trả lại cho bà Phạm Thị T nhận.

- Bà Nguyễn Thị M T3 phải nộp 620.000đ ( sáu trăm hai mươi ngàn đồng) để hoàn trả lại cho bà Phạm Thị T nhận.

- Anh Nguyễn Duy T2 phải nộp 620.000đ ( sáu trăm hai mươi ngàn đồng) để hoàn trả lại cho bà Phạm Thị T nhận.

- Ông Nguyễn Đ c Tr phải nộp 620.000đ ( sáu trăm hai mươi ngàn đồng) để hoàn trả lại cho bà Phạm Thị T nhận.

- Chị Lê Thị Thu Th2 phải nộp 620.000đ ( sáu trăm hai mươi ngàn đồng) để hoàn trả lại cho bà Phạm Thị T nhận.

4. Về án phí:

- Bà Phạm Thị T không phải chịu án phí sơ thẩm và phúc thẩm; Hoàn trả lại cho bà Phạm Thị T số tiền tạm ng án phí là 618.000đ (sáu trăm mười tám ngàn đồng) theo biên lai thu số 023176 ngày 05/5/2015 là 318.000đ (ba trăm mười tám ngàn đồng) và biên lai thu số 0002553 ngày 27/4/2017 là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố V tỉnh Vĩnh Long.

- Ông Lê Văn T không phải chịu án phí phúc thẩm nhưng phải chịu án phí sơ thẩm là 303.000đ (ba trăm lẻ ba ngàn đồng) đư c khấu trừ vào số tiền tạm ng án phí phúc thẩm là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0002911 ngày 31/8/2017 là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố V tỉnh Vĩnh Long. Ông Lê Văn T1 phải nộp tiếp số tiền 3.000đ ( ba ngàn đồng).

- Bà Nguyễn Thị B không phải chịu án phí phúc thẩm nhưng phải chịu án phí sơ thẩm là 303.000đ (ba trăm lẻ ba ngàn đồng) đư c khấu trừ vào số tiền tạm ng án phí phúc thẩm là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0002920 ngày 01/9/2017 là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố V tỉnh Vĩnh Long. Bà Nguyễn Thị B phải nộp tiếp số tiền 3.000đ ( ba ngàn đồng).

- Bà Đ Thị Ngọc D không phải chịu án phí phúc thẩm nhưng phải chịu án phí sơ thẩm là 303.000đ (ba trăm lẻ ba ngàn đồng) đư c khấu trừ vào số tiền tạm ng án phí phúc thẩm là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0002917 ngày 01/9/2017 là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố V tỉnh Vĩnh Long. Bà Đ Thị Ngọc D phải nộp tiếp số tiền 3.000đ ( ba ngàn đồng).

- Ông Nguyễn Thiên Th không phải chịu án phí phúc thẩm nhưng phải chịu án phí sơ thẩm là 303.000đ (ba trăm lẻ ba ngàn đồng) đư c khấu trừ vào số tiền tạm ng án phí phúc thẩm là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0002919 ngày 01/9/2017 là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố V tỉnh Vĩnh Long. Ông Nguyễn Thiên Th phải nộp tiếp số tiền 3.000đ ( ba ngàn đồng).

- Ông Nguyễn Văn Th1 không phải chịu án phí phúc thẩm nhưng phải chịu án phí sơ thẩm là 303.000đ (ba trăm lẻ ba ngàn đồng) đư c khấu trừ vào số tiền tạm ng án phí phúc thẩm là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0002916 ngày 01/9/2017 là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Long tỉnh Vĩnh Long. Ông Nguyễn Văn Th1 phải nộp tiếp số tiền 3.000đ ( ba ngàn đồng).

- Bà Nguyễn Thị M T3 không phải chịu án phí phúc thẩm nhưng phải chịu án phí sơ thẩm là 303.000đ (ba trăm lẻ ba ngàn đồng) đư c khấu trừ vào số tiền tạm ng án phí phúc thẩm là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0002925 ngày 06/9/2017 là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố V tỉnh Vĩnh Long. Bà Nguyễn Thị M T3 phải nộp tiếp số tiền 3.000đ ( ba ngàn đồng).

- Anh Nguyễn Duy T2 không phải chịu án phí phúc thẩm nhưng phải chịu án phí sơ thẩm là 303.000đ (ba trăm lẻ ba ngàn đồng) đư c khấu trừ vào số tiền tạm ng án phí phúc thẩm là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0002918 ngày 01/9/2017 là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố V tỉnh Vĩnh Long. Anh Nguyễn Duy T2 phải nộp tiếp số tiền 3.000đ ( ba ngàn đồng).

- Ông Nguyễn Đ c Tr không phải chịu án phí phúc thẩm nhưng phải chịu án phí sơ thẩm là 303.000đ (ba trăm lẻ ba ngàn đồng) đư c khấu trừ vào số tiền tạm ng án phí phúc thẩm là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0002598 ngày 08/5/2017 là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố V tỉnh Vĩnh Long. Ông Nguyễn Đ c Tr phải nộp tiếp số tiền 3.000đ ( ba ngàn đồng).

- Chị Lê Thị Thu Th2 không phải chịu án phí phúc thẩm nhưng phải chịu án phí sơ thẩm là 303.000đ (ba trăm lẻ ba ngàn đồng) đư c khấu trừ vào số tiền tạm ng án phí phúc thẩm là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0002599 ngày 18/5/2017 là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố V tỉnh Vĩnh Long. Chị Lê Thị Thu Th2 phải nộp tiếp số tiền 3.000đ ( ba ngàn đồng).

5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo kháng nghị Hội đồng xét xử không giải quyết có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Trường h p bản án quyết định đư c thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người đư c thi hành án dân sự người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự thời hiệu thi hành án đư c thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

6.Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Thẩm Phán – Chủ Tọa Phiên Tòa

Trần Thị Ngọc Dung

Cỡ chữ