- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu của vợ chồng ông Nguyễn Đức T, bà Lê Thị N. Buộc bà Nguyễn Thị H và anh Trịnh Xuân K liên đới bồi thường cho vợ chồng ông Nguyễn Đức T, bà Lê Thị N số tiền là 590.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 36/2018/DS-ST Ngày 23/4/2018. Về việc: “Tranh chấp về Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN
- Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Hoàng Huy Hùng;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phan Minh Quốc;
2. Ông Đinh Văn Diện;
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Dự; Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham dự phiên tòa: Ông Phạm Văn Sơn.
Vào ngày 23 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, An Giang mở phiên tòa xét xử công khai vụ kiện dân sự thụ lý số 168/2017/TLST-DS ngày 09/10/2017, về việc “Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 165/2018/QĐST-DS ngày 27/3/2018, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
1. 1. Ông Nguyễn Đức T, sinh năm 1970; (có mặt)
2. 2. Bà Lê Thị N, sinh năm 1970; (có mặt)
Nơi cư trú: Số 338 tổ 05, ấp S, xã V, huyện T, An Giang.
2. Bị đơn:
2. 1. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1954; (có mặt)
2. 2. Anh Trịnh Xuân K, sinh năm 1981; (có mặt)
Nơi cư trú: Tổ 05 ấp S, xã V, huyện T, An Giang.
3. Người có nghĩa vụ liên quan:
2. 1. Ông Trịnh Xuân B, sinh năm 1954; (có mặt)
3. 2. Chị Trịnh Thị N, sinh năm 1983; (vắng mặt)
3. 3. Chị Trịnh Thị Hoài T, sinh năm 1996; (vắng mặt) Nơi cư trú: Tổ 05 ấp S, xã V, huyện T, An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn vợ chồng ông Nguyễn Đức T, bà Lê Thị N ngày 06/7/2017 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà có nội dung như sau: Vào ngày 03/6/2017 ông Nguyễn Đức T đang phụ đốn cây Xoài nhà thầy giáo Nguyễn T Đ gần dốc cầu, lúc này anh Nguyễn Văn C chạy xe ba gác có chở con Heo lên cầu, do tải trọng lớn và sợ gẫy cầu nên ông T chặn lại không cho xe qua nhưng anh C không chấp nhận. Khoảng 10 phút sau ông Trịnh Xuân B chạy lại không nói chuyện phải quấy mà rượt đánh ông T chạy vào nhà thầy giáo Đ, sau đó ông B điện thoại kêu vợ là Nguyễn Thị H và con trai là Trịnh Xuân K kéo lại nhà đánh vợ ông T là bà Lê Thị N ngất xỉu nên phải đưa đi điều trị tại bệnh viện đa K Thoại Sơn, sau đó chuyển ra bệnh viện đa K An Giang và đến ngày 07/6/2017 thì xuất viện. Ngoài ra, sáng ngày 05/6/2017 vợ chồng ông Trịnh Xuân B, bà Nguyễn Thị H và con trai là Trịnh Xuân K còn kéo đến nhà rượt đánh ông Nguyễn Đức T gây thương tích mắt nên sau đó có đến Trung tâm đa K An giang điều trị cùng với vợ Lê Thị N tái khám thương tích tại bệnh viện Chợ Rẫy, tổng chi phí điều trị của vợ chồng ông T, bà N là khoảng 2.000.000đ.
Nay vợ chồng yêu cầu ông Trịnh Xuân B, bà Nguyễn Thị H và các con có trách nhiệm bồi thường toàn bộ chi phí bị thiệt hại gồm: Chi phí điều trị là 2.000.000đ, chi phí mất thu nhập của 02 người là 12.600.000đ; Tổng cộng số tiền phải bồi thường là 14.600.000đ. Tại phiên tòa, vợ chồng ông T, bà N rút lại một phần yêu cầu và chỉ buộc bồi thường 2.000.000đ chi phí thang thuốc điều trị theo toa đối với ông Trịnh Xuân K và bà Nguyễn Thị H.
* Theo bản khai của vợ chồng ông Trịnh Xuân B, bà Nguyễn Thị H ngày 24/10/2017 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa có nội dung: Vào khoảng 17 giờ 00 ngày 03/6/2017 vợ chồng ông B, bà H có bán 01 con Heo đẻ bị bệnh cho ông Nguyễn Văn V giá 3.500.000đ, do anh Nguyễn Văn C chạy xe ba gác đến bắt Heo về. Khoảng 10 phút sau thì nghe tên T, vợ là N ngăn cản không cho xe Heo chạy qua cầu nên vợ chồng có đến nhà vợ chồng ông T, bà N để nói chuyện thì bị bà N cầm ống tuýp sắt đánh liên tiếp vào tay của bà Nguyễn Thị H làm gẫy tay phải nên phải nhập viện điều trị bó bột trong thời hạn 01 tháng chi phí tổng cộng là 1.684.000đ, không được cử động và trong thời hạn 03 tháng cần có người chăm sóc. Sự việc trên là do từ năm 2016 vợ chồng ông T, bà N có mâu thuẫn từ trước và thường xuyên chửi bới nên đã có sự chuẩn bị chặn xe từ trước bằng dao, ống sắt và mới xảy ra sự việc nêu trên, đồng thời thừa nhận đã tham gia xô xát là sai pháp luật.
Nay vợ chồng ông Nguyễn Đức T, bà Lê Thị N yêu cầu vợ chồng bồi thường những khoản chi phí thiệt hại nêu trên thì vợ chồng ông Trịnh Xuân B, bà Nguyễn Thị H không đồng ý.
* Theo bản khai của anh Trịnh Xuân K, chị Trịnh Thị N, chị Trịnh Thị Hoài T ngày 24/10/2017 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án có nội dung: Tất cả đều là con ruột của ông Trịnh Xuân B, bà Nguyễn Thị H. Vào ngày 03/6/2017 có nghe nói là vợ chồng ông T, bà N ngăn cản không cho xe Heo của gia đình bán cho anh Vũ qua cầu và còn đánh mẹ bị gẫy tay, do nóng ruột nên các anh em có đến nhà để hỏi chuyện nhưng không dám vào do bà N có cầm cây mác, hai bên có chửi qua lại một lúc rồi về. Riêng anh Trịnh Xuân K có trực tiếp tại hôm xô xát và can ngăn bà N cầm cây sắt đánh mẹ và xô bà N ra, anh K không có đánh vợ chồng bà N, ông T. Nay vợ chồng ông Nguyễn Đức T, bà Lê Thị N yêu cầu gia đình bồi thường chi phí thang thuốc điều trị 2.000.000đ thì các anh em và gia đình không chấp nhận. Tại phiên tòa, chị Trịnh Thị N, chị Trịnh Thị Hoài T đã vắng mặt.
Quan điểm của Viện kiểm sát về quá trình tố tụng của vụ kiện: Việc Tòa án tiến hành thụ lý giải quyết là đúng theo trình tự thủ tục và thẩm quyền; Trong quá trình tiến hành tố tụng thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Các đương sự trong vụ án cũng thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Về quan điểm giải quyết vụ án: Các chứng cứ trong hồ sơ thể hiện các bên có tham gia xô xát vào ngày 03/6/2017 làm cho chị Lê Thị N bị thương tích và điều trị nên đều có lỗi và phải chịu trách nhiệm thiệt hại xảy ra do phần lỗi của mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ kiện và được thẩm tra tại phiên tòa, qua tranh luận công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận xét như sau:
Về tố tụng:
Đây là tranh chấp dân sự về đánh nhau gây thương tích thuộc khoản 6 Điều 26, căn cứ Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của BLTTDS năm 2015 thì Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn thụ lý đúng thẩm quyền. Tại phiên tòa, chị Trịnh Thị N, chị Trịnh Thị Hoài T vắng mặt không lý do nhưng đã tống đạt hợp lệ, căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành phiên tòa theo quy định.
Tại phiên tòa, vợ chồng ông Nguyễn Đức T, bà Lê Thị N chỉ yêu cầu bà Nguyễn Thị H và anh Trịnh Xuân K bồi thường thiệt hại, những người còn lại không yêu cầu nên chỉ xác định bà H, anh K là bị đơn và những người còn lại có tư cách là người có nghĩa vụ liên quan.
Về nội dung:
Tại biên bản ghi lời khai về vi phạm hành chính của Công an xã Vọng Đ vào ngày 03/6/2017 đối với ông Trịnh Xuân B, bà Nguyễn Thị H, anh Trịnh Xuân K đều thể hiện nội dung: “Do vợ chồng ông Nguyễn Đức T, bà Lê Thị N có hành vi ngăn cản không cho xe chở Heo của gia đình qua cây cầu nông thôn nên đã xảy ra cự cãi và dẫn đến các bên xô xát với nhau, trong đó ông B và ông T có đánh nhau qua lại nhưng không gây thương tích, riêng bà H, anh K và bà N xô xát với nhau dẫn đến bà N chấn thương phần mền nằm viện và bà H bị gẫy tay phải bó bột; Đồng thời, ông B, bà H và anh K đều thừa nhận hành vi tham gia xô xát đánh nhau gây mất trật tự là sai trái, vi phạm pháp luật”. Phía nguyên đơn là ông Nguyễn Đức T bị chấn thương mắt và bà Lê Thị N chấn thương phần mền nên phải điều trị chi phí hết khoảng 2.000.000đ nên yêu cầu bồi thường, riêng tiền công và mất thu nhập không yêu cầu. Tại khoản 1 Điều 584 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”, do vậy yêu cầu bồi thường thiệt hại về chi phí điều trị của vợ chồng ông T, bà N là có cơ sở và phù hợp pháp luật nghĩ nên chấp nhận. Tuy nhiên, trong trường hợp này cả vợ chồng ông T, bà N cũng có lỗi do đã có hành vi ngăn cản không cho xe lưu thông qua cầu, đường lộ giao thông và cầu dân sinh việc ngăn cấm phải treo biển báo hoặc phải do cơ quan có thẩm quyền thực hiện, do đó đây là lỗi hổn hợp mỗi bên phải chịu ½ thiệt hại đã xảy ra. Theo các chứng từ do vợ chồng ông T, bà N cung cấp thì chỉ có số tiền 1.181.583đ là chứng từ hợp lệ, các chứng từ còn lại không phù hợp nên không được chấp nhận. Như vậy, cần buộc bà Nguyễn Thị H và anh Trịnh Xuân K có trách nhiệm liên đới bồi thường cho vợ chồng ông Nguyễn Đức T, bà Lê Thị N ½ giá trị thiệt hại.
Ngoài ra, phía bà Nguyễn Thị H xác định thiệt hại của bà là 3.000.000đ tiền Heo bị mất và chi phí điều trị bị gãy tay là 1.684.000đ nhưng phía bà H không cung cấp chứng cứ và không yêu cầu bồi thường, đây là sự tự nguyện của bà H và phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
Theo báo cáo của Công an xã Vọng Đ ngày 22/6/2017 đã xác định: “Vụ việc đánh nhau của các bên mặc dù có trình độ học vấn thấp, nhưng có tính chất côn đồ, hung hãn gây bức xúc trong nội bộ quần chúng nhân dân, cần được giải quyết và xử lý sớm nhằm ổn định tình hình trật tự tại địa phương”. Trong vụ việc này, mặc dù thiệt hại xảy ra không lớn nhưng do các bên đã có mâu thuẫn kéo dài từ trước và đến nay hành vi gây mất trật tự tại địa phương vẫn còn xảy ra giữa các bên. Do đó, kiến nghị chính quyền địa phương cần có biện pháp cụ thể trong trường hợp này để không còn hành vi vi phạm pháp luật xảy ra và cũng để răn đe trong những trường hợp khác.
Về án phí, lệ phí sơ thẩm: Do bà H và anh K bị buộc liên đới trách nhiệm bồi thường nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 6 Điều 26, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 179, khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 584, Điều 587, Điều 590 của Bộ luật dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
- Xử:
+ Chấp nhận một phần yêu cầu của vợ chồng ông Nguyễn Đức T, bà Lê Thị N. Buộc bà Nguyễn Thị H và anh Trịnh Xuân K liên đới bồi thường cho vợ chồng ông Nguyễn Đức T, bà Lê Thị N số tiền là 590.791đ (Năm trăm chín mươi ngàn bảy trăm chín mươi một ngàn đồng”.
+ Đình chỉ yêu cầu của vợ chồng ông Nguyễn Đức T, bà Lê Thị N buộc vợ chồng ông Trịnh Xuân B, bà Nguyễn Thị H và anh Trịnh Xuân K bồi thường tiền mất thu nhập tổng cộng là 12.600.000đ.
- Về án phí, lệ phí sơ thẩm:
+ Bà Nguyễn Thị H và anh Trịnh Xuân K phải chịu chung 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
+ Vợ chồng ông Nguyễn Đức T, bà Lê Thị N được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Báo cho các đương sự có mặt tham dự phiên tòa biết có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người vắng mặt tại phiên tòa hoặc vắng mặt khi tuyên án (có lý do chính đáng) có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày tống đạt bản án hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh An Giang. - VKSND H.Thoại Sơn. - Chi cục THADS H.Thoại Sơn. - Các đương sự (Để thi hành). - Lưu văn phòng. - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà |